Wednesday, January 30, 2013

Xuân nhật độc chước Lý Bạch



春 日 獨 酌 二 首 之 一 李白

東 風 扇 淑 氣,水 木 榮 春 暉。
白 日 照 綠 草,落 花 散 且 飛。
孤 雲 還 空 山,眾 鳥 各 已 歸。
彼 物 皆 有 託,吾 生 獨 無 依。
對 此 石 上 月,長 醉 歌 芳 菲。

Xuân nhật độc chước - Lý Bạch

Đông phong phiến thục khí,
Thủy mộc vinh xuân huy.
Bạch nhật chiếu lục thảo,
Lạc hoa tán thả phi.
Cô vân hoàn không sơn,
Chúng điểu các dĩ qui.
Bỉ vật giai hữu thác,
Ngô sinh độc vô y.
Đối thử thạch thượng nguyệt,
Trường túy ca phương phi.

NGÀY XUÂN UỐNG RƯỢU MỘT MÌNH

Gió đông thổi nhẹ mây dời,
Cỏ cây xanh lẫn chân trời tuyết pha.
Nắng xuân rải trắng ngõ nhà,
Là đà cánh gió vàng hoa rụng đầy.
Núi rừng khoác áo ngàn mây,
Chim trời tung cánh gọi bầy nơi nơi.
Muôn loài hạnh ngộ tinh khôi,
Sao đời ta phải đơn côi một mình.
Trăng lên vách đá in hình,
Hát vang cạn chén tử sinh cuộc đời....

Badmonk - Tâm Nhiên

Saturday, January 26, 2013

Sơn trung vấn đáp Lý Bạch




山 中 問 答 - 李 白

問 余 何 意 棲 碧 山
笑 而 不 答 心 自 閑
桃 花 流 水 杳 然 去
別 有 天 地 非 人 間

Sơn trung vấn đáp - Lý Bạch

Vấn dư hà ý thê bích sơn
Tiếu nhi bất đáp tâm tự nhàn
Đào hoa lưu thủy yểu nhiên khứ
Biệt hữu thiên địa phi nhân gian.

Đáp Lời Người Hỏi Ở Trên Núi

Hỏi ta sao ở núi xanh ?
Mĩm cười không nói, lòng thanh thản nhàn.
Đào rơi nước cuốn nhẹ nhàng,
Rằng đây khác chốn nhân gian bão bùng...

Badmonk - Tâm Nhiên


Hỏi ta việc gì lại vào ở trong núi xanh,
Cười không trả lời, lòng cảm thấy thư nhàn.
Hoa đào theo giòng nước trôi đi xa thẳm,
Riêng chỉ thấy cảnh đất trời khác hẳn ở chốn nhân gian thị phi

Bí mật lăng mộ Thành Cát Tư Hãn

Tháng 9/2001, đoàn khảo cổ Mỹ và Mông Cổ phát hiện ở gần vùng núi Binder cách Ulanbator, thủ đô Mông Cổ, 360km một quần thể 40 ngôi mộ, 3 phía được bao bọc bởi bức tường đá cao 3– 4 m, tổng chiều dài gần 3 km.
Giữa khu này có một khối đá đỏ hay và được xem như là lâu đài của Thành Cát Tư Hãn.
Ở phía nam quần thể này, bằng những thiết bị chuyên dụng đã phát hiện hài cốt của hơn 60 người. Theo những binh giáp và vũ khí tìm thấy, những người này thuộc tầng lớp quý tộc Mông Cổ.
Các nhà khảo cổ cho rằng trong số đó có Thành Cát Tư Hãn. Cách địa điểm này 56 km, có một ngôi mộ tập thể chôn khoảng 100 binh sĩ Mông Cổ.
Các nhà khoa học Mỹ cho rằng, theo truyền thuyết, đó chính là những binh sĩ sau khi chôn cất vị thống soái đã bị giết để khỏi lộ vị trí ngôi mộ của ông. Đoàn thám hiểm cuối cùng cũng không chứng minh được trong quần thể này có hài cốt của Thành Cát Tư Hãn hay không.
Sau đó không lâu, một nhân viên bảo tàng ở Mãn Châu tuyên bố đã tìm thấy mộ của Thành Cát Tư Hãn. Theo phía Trung Quốc, mộ của ông nằm ở phía bắc thuộc khu tự trị Nội Mông, gần biên giới với Mông Cổ, dưới chân dãy núi Altai. Nhưng rồi tin này cũng bị chìm vào lãng quên.
Năm 2004 đoàn thám hiểm Mông Cổ-Nhật Bản khi khai quật vùng Avraga (Mông Cổ) phát hiện nền móng tòa nhà có hình dáng bề ngoài giống cung điện của Thành Cát Tư Hãn được lưu trong sử sách. Các nhà khoa học tìm thấy một bệ thờ bằng đá và các bát hương cổ Trung Quốc có chạm hình con rồng.
Sử sách ghi lại rằng, gần mộ Thành Cát Tư Hãn có các bát hương hình dáng như vậy luôn tỏa khói nghi ngút. Ở gần cung điện còn có 4 hố sâu, đường kính 1,5 m, trong đó là xương gia súc, tàn tro vải lụa.
Theo tục lệ Mông Cổ sau khi chôn cất các khan (chức danh của giới quý tộc Mông Cổ) người ta đào hố, thiêu gia súc và đổ sữa ngựa vào đó với quan niệm rằng người quá cố sẽ có thực phẩm dùng ở thế giới bên kia.
Tất cả cho thấy đây là nơi chôn cất của một vị quý tộc rất có thế lực đáng tôn kính Mông Cổ. Nhưng đó có phải Thành Cát Tư Hãn không vẫn còn bí ẩn.
Thành Cát Tư Hãn mất năm 1227 (năm Hợi) trong cuộc hành quân chinh phục. Có nhiều giả thiết về cái chết của ông: bị trúng tên khi chiến đấu, bị bệnh nặng kéo dài, bị ngã ngựa, bị sét đánh, thậm chí là bị người đẹp giết trong đêm vui vẻ.
Để cho vị hoàng đế không bị người đời sau quấy rối, người ta đã chôn ông trên thảo nguyên rồi cho đàn ngựa hàng nghìn con quần thảo xóa mọi dấu vết.
Theo một giả thuyết khác, người ta đắp đập ngăn sông cho nước chảy ra hướng khác rồi chôn quan tài xuống đáy sông, sau đó phá đập cho nước chảy về theo hướng cũ, và dòng nước sẽ vĩnh viễn che kín ngôi mộ.

Tuy nhiên, do Đại Hạ nằm ở phía tây của hai nước Tống và Liêu, vì vậy, trong sử sách Trung Quốc người ta gọi Đại Hạ là Tây Hạ.

Vương triều Tây Hạ là vương triều của bộ tộc Đảng Hạng, được thành lập vào đầu thế kỷ thứ 11 sau Công nguyên. Tổ tiên của triều Tây Hạ được cho là Lý Kế Thiên. Thực tế thì tổ tiên xa xưa của họ Lý vốn là mang Thác Bạt.

Cho tới đầu thời Đường, một người Đảng Hạng là Thác Bạt Xích Từ đã theo nhà Đường, được phong là Bình Tây Công và cho đến ở vùng Khánh Châu (nay thuộc Khu tự trị Hồi Ninh Hạ).

Cuối thời Đường, con cháu người này là Thác Bạt Tư Cung tham gia dẹp loạn Hoàng Sào có công, nên được phong làm Hạ Quốc Công, một chức vụ kế tập và rất có thế lực đồng thời được ban quốc tính là họ Lý, theo họ các vua nhà Đường. Lý Kế Thiên chính là con cháu của Thác Bạt Xích Từ.

Đến thời hậu duệ của Lý Kế Thiên là Lý Đức Minh, do thế lực của người Đảng Hạng chưa mạnh nên Lý Đức Minh phải dựa vào nước Liêu và Bắc Tống.

Nước Liêu còn phong cho Lý Đức Minh là Tây Bình vương. Thời Tống Thái Tông cũng ban cho Lý Đức Minh họ Triệu, tên là Bảo Cát.

Đến thời Tống Chân Tông thì Lý Đức Minh được phong làm Định Nan Quân Tiết Độ Sứ, cai quản 5 châu ở vùng Ninh Hạ.

Nhờ sự lãnh đạo của mấy đời Tây Bình Vương của gia tộc Thác Bạt, thế lực của người Đảng Hạng bắt đầu lớn mạnh dần. Lúc bấy giờ, gia tộc Thác Bạt chưa tuyên bố lập quốc gia riêng, tuy nhiên đã thực hiện các quyền lực và nghi thức giống như hoàng đế.


Khu lăng mộ Tây Hạ
Khu lăng mộ Tây Hạ

Khi cháu đời thứ ba của Lý Kế Thiên là Triệu Nguyên Hạo kế thừa tước vị của cha ông, liền bỏ những họ mà nhà Đường và nhà Tống đã ban cho họ. Tới năm 1038, Lý Nguyên Hạo xưng đế, đặt tên nước là Đại Hạ.

Khi Nguyên Hạo nắm quyền đã học theo các chế độ của các vương triều Trung Nguyên đồng thời kết hợp với các đặc sắc của dân tộc mình để hoàn thiện cấu thống trị phong kiến của Tây Hạ.

Nhờ vậy, chẳng bao lâu sau, từ kinh tế, quân sư cho tới chính trị, Tây Hạ đã có thể sánh ngang với các nước Tống, Liêu.

Vương triều Tây Hạ do Nguyên Hạo xây dựng tồn tại chưa đầy hai trăm năm. Tuy nhiên nó đã tạo nên một nền văn minh huy hoàng và xán lạn.

Trước khi tuyên bố thành lập vương triều Tây Hạ, Nguyên Hạo đã sai đại thần là Dã Lợi, Nhân Vinh sáng tạo ra loại văn tự để ghi lại ngôn ngữ của người Đảng Hạ. Đó chính là Phồn văn mà sau này người ta gọi là “chữ Tây Hạ”.

Loại văn tự này mặc dù mượn các nguyên lý cấu tạo cũng như nét bút của chữ Hán, tuy nhiên, lại mang rất nhiều đặc điểm riêng.

Phồn văn có một tác quan trọng đối với sự kiến lập vương triều, sự phát triển văn hóa, truyền bá Phật giáo, phồn thịnh của văn học cũng như ngành in ấn của Tây Hạ.

Tuy nhiên, tới giữa thế kỷ thứ 13, Tây Hạ không còn đủ sức để chống lại sức tấn công như lũ cuốn của đế quốc Mông Cổ. Sau khi hạ được Hưng Khánh phủ, đô thành của Tây Hạ, quân đội Mông Cổ đã xông vào thành, cướp bóc.

Gót ngựa của kỵ binh Mông Cổ đi tới đâu, xương trắng của người Tây Hạ phơi tới đó. Trải qua 189 năm tồn tại, cuối cùng vương triều Tây Hạ uy trấn một phương cũng bị tiêu vong, bộ tộc Đảng Hạ từ đó cũng không còn tồn tại.

Trong những sử sách sau đó, người ta không thấy những ghi chép chính thống về Tây Hạ. Tất cả chỉ là những câu chuyện vụn vặt mang đậm tính truyền kỳ.

Những khai quật khảo cổ cũng không thu được kết quả như mong đợi giúp những người hiện đại có thể hiểu rõ về sự tồn tại của vương triều này.

2. Sự tái xuất của vương triều Tây Hạ chính là vào năm 1972 tại một công trường quân sự của quân Lan Châu.

Lúc bấy giờ, quân Lan Châu đang tiến hành xây dựng một sân bay quân sự loại nhỏ ở dưới núi Hạ Lan cách trung tâm Ngân Xuyên khoảng 40km thì phát hiện ra một số đồ gốm rất cổ.

Các nhà khảo cổ tiến hành xem xét và phán đoán rằng, nơi đây chính là lăng mộ của người Tây Hạ thời trước. Và phán đoán của họ không sai.

Chẳng bao lâu sau, những ngôi mộ có niên đại ngót 700 bị chôn vùi dưới lòng đất đã một lần nữa xuất hiện trước mắt người đời. Tuy nhiên, sự xuất hiện ấy không những không khiến những câu hỏi về nền văn minh Tây Hạ được giải đáp mà ngược lại khiến nó càng trở nên thần bí và rắc rối hơn.
Khu lăng mộ Tây Hạ
Khu lăng mộ bị chôn vùi hơn 700 năm của triều Tây Hạ

Trong lịch sử Trung Quốc, Tây Hạ là vương triều duy nhất không có chính sử. Thành Cát Tư Hãn và con cháu mình không chỉ hủy diệt người Đảng Hạ mà còn hủy diệt luôn cả nền văn hóa của người Tây Hạ. Những cuốn sử thời nhà Nguyên chỉ có “Tây Hạ truyện” chứ không hề có phần lịch sử riêng.

Cũng vì vậy, những bí ẩn mà nền văn Tây Hạ để lại cho người đời vô cùng nhiều. Muốn giải mã được những bí ẩn này, giờ đây cách duy nhất chính là giải cho được những mật mã của lăng mộ của vương triều Tây Hạ còn lưu lại.

Theo sử sách ghi chép, vương lăng của Tây hạ được xây dựng vào khoảng từ thế kỷ thứ 11 tới thế kỷ thứ 13, tại chân núi phía đông của ngọn Hạ Lan, nằm cách trung tâm thành phố Ngân Xuyên của Ninh Hạ khoảng 40km.

Năm 1227, kỵ binh Mông Cổ tấn công Tây Hạ, Tây Hạ bị diệt vong, các lăng mộ này cũng bị phá hủy nghiêm trọng. Sau đó, cùng với sự diệt vong của vương triều Tây Hạ, các lăng mộ này cũng bị chôn vùi trong cát cho tới tận những năm 1972 khi người ta tình cờ phát hiện.

Khu lăng mộ hoàng đế Tây Hạ từ nam hướng theo bắc có thể phân thành 4 khu vực. Từ lăng số 1 tới lăng số 6 có thể chia làm 3 khu, mỗi khu 2 lăng. Từ lăng số 7 tới lăng số 9 thuộc khu số 4.

Theo bước chân của các nhà khảo cổ, những bí ẩn mà lăng mộ này ngày càng nhiều hơn. Điều mà mọi người nghĩ tới trước nhất chính là, chủ nhân của những lăng mộ này là ai.

Trong số 12 đế vương của Tây hạ, những người có lăng hiệu gồm Dụ Lăng của Thái Tổ Lý Kế Thiên, Gia Lăng của Thái Tông Triệu Đức Minh, Thái Lăng của Cảnh Tông Nguyên Hạo, An Lăng của Nghi Tông Lượng Tộ, Hiến Lăng của Huệ Tông Kiêm Thương, Hiển Lăng của Sùng Tông Càn Thuận, Thọ Lăng của Nhân Tông Nhân Hiếu, Trang Lăng của Hằng Tông Thuần Hựu, Khang Lăng của Nhượng Tông An Toàn, tổng cộng có 9 người.

Tuy nhiên, vị trí lăng mộ cụ thể của họ không được nói rõ, vẫn phải chờ khảo chứng.

Ngoài ra, điều khiến nhiều người thắc mắc chính là, trong khu vực lăng mộ này, hoàn toàn không có lấy một tấm bia mộ nào hoàn chỉnh, khắp mọi nơi chỉ là những tấm bia đã vỡ vụn.

Ngoài trừ những mảnh vỡ bia mộ của Nhân Hiếu Lăng được ghép lại thành phần đầu của tấm bia tương đối hoàn chỉnh, còn lại đều là những mảnh vụn không thể nào khôi phục lại được.

Sự tàn phá của quân đội Mông Cổ không chỉ khiến Tây Hạ diệt vong mà ngay cả tới bia mộ cũng không tìm được cái nào còn hoàn chỉnh.

Tuy nhiên, vì sao người Mông Cổ lại làm như vậy? Theo truyền thuyết, người sáng lập ra đế chế Mông Cổ đã nhiều lần dẫn quân tấn công Tây Hạ nhưng không thành.

Vì vậy, Thành Cát Tư Hãn luôn muốn Tây Hạ sẽ bị giày xéo dưới gót giày của kỵ binh Mông Cổ. Trong lần tấn công cuối cùng, bệnh cũ của Thành Cát Tư Hãn tái phát, ít lâu sau thì bệnh ngày một nặng thêm và vị Đại hãn của Mông Cổ đột ngột qua đời.

Có lẽ Thành Cát Tư Hãn cho rằng, người Tây Hạ phải chịu trách nhiệm về cái chết của ông nên trước khi nhắm mắt xuôi tay, Thành Cát Tư Hãn đã dặn dò con cháu mình rằng, nhất định phải cho Tây Hạ biến mất khỏi trái đất, không chừa lại một thứ gì.

Chính vì thế, khi quân Mông Cổ công hạ được đã không thương tiếc giết chóc, cướp bóc và tàn phá Tây Hạ. Đô thành Tây Hạ được xây dựng hơn 200 năm cuối cùng bị thiêu hủy bởi ngọn lửa của người Mông Cổ sau khi đã họ đã cướp và giết không còn thứ gì.

Chủ nhân của lăng mộ là ai? Lăng mộ đã từng bị cướp hay chưa? Những lăng mộ này còn ẩn chứa những bí mật gì nữa? Những thứ được tìm thấy trong lăng mộ có vai trò thế nào trong vương triều của người Tây Hạ?...

Những câu hỏi về khu lăng mộ bí ẩn của vương triều Tây Hạ có lẽ phải còn rất lâu nữa mới có được câu trả lời.

Theo Vokrug sveta

Monday, January 21, 2013

Xuân dạ biệt hữu nhân - Trần Tử Ngang



春 夜 別 友 人 - 陳 子 昂

銀 燭 吐 青 煙,
金 樽 對 綺 筵。
離 堂 思 琴 瑟,
別 路 繞 山 川。
明 月 隱 高 樹,
長 河 沒 曉 天。
悠 悠 洛 陽 道,
此 會 在 何 年?

Xuân dạ biệt hữu nhân - Trần Tử Ngang

Ngân chúc thổ thanh yên,
Kim tôn đối ỷ diên.
Ly đường tư cầm sắt,
Biệt lộ nhiễu sơn xuyên.
Minh nguyệt ẩn cao thụ,
Trường hà một hiểu thiên.
Du du Lạc Dương đạo,
Thử hội tại hà niên?

Đêm Xuân Tiễn Bạn

Nến tàn nhàn nhạt khói xanh bay,
Vàng nghiêng đáy cốc rựu thơm đầy.
Đàn lên cung gởi lời tâm sự,
Sông núi chập chùng buổi chia tay.
Trăng xuống tàn cây tựa mái đầu,
Bình minh sao rụng sáng lên mau.
Lạc Dương tương biệt đường muôn dặm,
Hẹn đến xuân nào ta gặp nhau?

Badmonk - Tâm Nhiên


Ngọn nến bạc nhả khói xanh
Chén vàng rựu tràn ly long lanh buổi tiệc
Nơi ngôi nhà lúc chia tay lưu tình
Núi sông ghềnh quanh co làm thêm khó tiễn biệt
Cây cao che bóng trăng xuống
Dòng sông ngân lặn lúc bình minh lên
Lạc Dương đường xa xôi nghìn dặm
Năm nào chúng mình lại được gặp lại nhau?

Wednesday, September 19, 2012

Thập nhất nguyệt quá bạc Vịnh Sơn hiểu trú - Trần Minh Tông




十 一 月 過 泊 詠 山 曉 住 - 陳 明 宗

月 落 小 窗 船,
巖 花 冷 不 眠。
曙 分 山 失 影,
陽 伏 水 生煙。
往 事 須 臾 際,
成 人 三 十 年。
不 言 恍 若 醒,
坐 對 一 爐 前。

Thập nhất nguyệt quá bạc Vịnh Sơn hiểu trú - Trần Minh Tông

Nguyệt lạc tiểu song thuyền,
Nham hoa lãnh bất miên.
Thự phân sơn thất ảnh,
Dương phục thuỷ sinh yên.
Vãng sự tu du tế,
Thành nhân tam thập niên.
Bất ngôn hoảng nhược tỉnh,
Toạ đối nhất lô tiền.

Tháng mười một qua hồ Vịnh Sơn đổ thuyền lúc bình minh

Trăng lặn sau khung cửa thuyền trôi,
Hoa đá rét căm thức sáng trời .
Bóng núi sáng lên hòa sắc núi,
Mặt trời chưa ló nước bốc hơi .
Chuyện củ hợp tan theo gió sớm,
Thành bại được người ba mươi năm .
Bâng khuâng mộng mị lòng không nói,
Trầm lặng nhìn than lửa bập bùng .

Badmonk - Tâm Nhiên



Trăng lặn ngoài cửa sổ nhỏ trên thuyền,
Hoa núi lạnh chẳng ngủ được.
Tảng sáng, bóng núi mờ hẳn đi,
Khi mặt trời chưa ló mặt nước như bốc khói.
Việc đã qua chỉ như trong chốc lát,
Thành được người thì đã ba mươi năm.
Bâng khuâng như tỉnh lại, chẳng nói năng gì,
Ngồi lặng trước bếp lò .



Trần Minh Tông(1300-1357), tên huý là Trần Mạnh, là con thứ tư vua Trần Anh Tông, cháu ngoại của Bảo nghĩa vương Trần Bình Trọng, sinh ngày 21 tháng Tám năm Canh Tý (4-9-1300), mất ngày 19 tháng Hai năm Đinh Dậu (10-3-1357).

Thuở nhỏ, vua cha sợ ông khó nuôi như các hoàng tử khác nên Trần Nhật Duật đã nhận ông về nuôi nấng, dạy dỗ như con. Năm 15 tuổi, vua cha lên làm thượng hoàng, Trần Minh Tông được kế vị, trở thành vị hoàng đế thứ năm của triều Trần.

Trong 15 năm làm vua (1314-1329) và 28 năm làm thượng hoàng (1329-1357), Trần Minh Tông đã ban hành nhiều chính sách nhằm củng cố thêm cơ nghiệp nhà Trần. Ông tỏ ra cứng rắn hơn trong việc dùng sức mạnh để quét sạch các lực lượng quấy rối biên giới phía Tây và phía Nam, bảo đảm một bờ cõi yên ổn và vững mạnh. Trong quan hệ với nhà Nguyên, ông vẫn giữ thái độ mềm dẻo nhưng không nhân nhượng, chủ động chống mọi âm mưu lấn đất, nhòm ngó của họ. Về nội trị, Minh Tông chú ý đẩy mạnh sản xuất nông nghiệp, kêu gọi vương hầu trả lại ruộng đất lấn chiếm, giải quyết thoả đáng các vụ tranh chấp ruộng đất. Nho học được đề cao hơn, Phật học giảm dần uy thế. Minh Tông không xuất gia như các tiên đế, ông dặn dò các hoàng hậu cũng đừng đi tu. Dưới triều đại ông, truyền thống cởi mở, thân ái giữa vua tôi vẫn được duy trì. Hai thế hệ sĩ phu - lão thành và trẻ tuổi - đều được thi thố tài năng như nhau, nên sử sách đời sau bình luận rằng thời này "nhân tài đầy dẫy". Tuy nhiên, về cuối triều Minh Tông, mâu thuẫn trong triều dần dần trở nên gay gắt, hình thành những phe phái đối lập, có lúc phát thành những vụ thanh toán tàn khốc đẫm máu. Nhà vua cũng không đủ sáng suốt nên chính ông cũng bị lôi kéo vào những vụ đó, để sau này ông đã phải hối hận.

Về thơ văn, mặc dù khi lâm chung, Minh Tông có sai đốt hết đi, nhưng ngày nay vẫn còn giữ lại được một số. Có thể nói, dưới những sắc thái khác nhau, thơ ông đã phản ánh trung thực tư tưởng, tình cảm và tính cách vủa ông. Qua thơ, Minh Tông tỏ ra là một vị vua có tinh thần chủ động, năng nổ với việc nước, ưu ái đối với các bề tôi giỏi, thương yêu dân chúng trong bờ cõi và cả dân chúng các nước láng giềng. Thơ Minh Tông hùnh hồn, phóng khoáng, nhưng cũng bình dị, tự nhiên, tinh tế. Nhà thơ không ngần ngại bộc bạch những tâm sự sâu kín, những lỗi lầm thời trẻ mà sau này ông mới nhận thức được.

Tác phẩm có "Minh Tông thi tập", 1 quyển, nay đã mất. Hiện chỉ còn 25 bài thơ chép rải rác trong "Toàn Việt thi lục", "Trần triều thế phả hành trạng", "Việt âm thi tập", "Đại Việt sử ký toàn thư" và "Nam Ông mộng lục". Ngoài ra còn một bài tựa cho tập "Đại hương hải ấn thi" của Trần Nhân Tông
- Theo VH.Org

Giải mã tượng Trần Nhân Tông .


Đệ nhất tổ Trúc lâm (Trần Nhân Tông) tháp Huệ Quang


Giải mã tượng Trần Nhân Tông .

Một bức tượng, đặc biệt là tượng phật giáo thường có ý nghĩa. Để phân biệt tượng nào là tượng nào, vì khác với tượng hiện đại hay theo truyền thống phương Tây là tượng truyền thần, các tượng phật giáo đều na ná giống nhau. Không thể theo nét mặt mà đoán ra là ai . Không kể do tư duy luân hồi, mỗi nhân vật có thể có nhiều kiếp khác nhau, khiến hình dạng khác nhau... Kết quả cùng một tượng, ví dụ: Tượng Quan Âm, người ta có thể tìm thấy vô số các mẫu tượng khác nhau... Nếu không biết có thể nhầm nó với tượng thần Shiva, vishnu ,Parameshwara?... Biết đó là tượng
Quan Âm thì tượng thường phải có thêm một tượng phật A di đà được tạc ở trong búi tóc. Điều này cũng có thể vẫn đúng với tượng đã chịu ảnh hưởng văn hoá TQ. Ví dụ: tượng Phật bà Quan Âm nghìn mắt nghìn tay ở chùa Phật tích, trên cùng trong búi tóc của bà vẫn có tượng phật A di đà...vv

Ý nghĩa của các tượng phật giáo nằm ở trong thế tượng và dáng bàn tay. Trong đó có lẽ dáng bàn tay là quan trọng nhất. Các dáng bàn tay này không phải vô cớ tuỳ tiện mà có, mà nó có chuẫn ( Theo quy định ? ) , moi dáng có một tên gọi và một ý nghĩa . Tuỳ theo ý nghĩa này mà người ta có thể hiểu người làm tượng, và người đặt tượng muốn nói gì cũng như là thể hiện vị thần vị phật nào.( Mọi người có thể tìm thấy những dáng cơ bản này trong google, tìm từ Mudra ).

Dáng tay là một dấu ấn của văn hoá Ấn Độ . Khác với văn hoá Trung quốc truyền bá chủ yếu qua văn tự là chữ Nho, văn hoá Ấn Độ truyền bá qua vũ điệu, nghi lễ tôn giáo, nhạc, một dạng multimedía cổ điển. Chính vì thế mà văn hoá Ấn độ không cần đồng hoá, mà chỉ thâm nhập thẩm thấu vào văn hoá bản địa. Với một người Kinh vốn quen với văn hoá Trung hoa hơn, tức là tiếp nhận bằng văn tự, nhận thức được cái dạng multimedía Ấn độ này cũng không dễ.

Những ngôn ngữ hình thế (body langage) này được đưa vào phật giáo rõ ràng nhất là từ mật tông (Tantrisme), tức là là dòng phật giáo đầu tiên du nhập vào ĐNA và Đông Á. Ở Nhật người ta gọi là chính tông (tông ở đây là ngôn ngữ, không phải là tông phái) bởi Tantrisme cần 3 biểu tượng: dáng tay (mudra) được gọi là thủ ấn, mantra được gọi là thần chú. Mandala là hình ảnh để trụ tư duy (cột tâm ). Hiện tại trong bất cứ một kinh phật nào vẫn có thần chú. Ví dụ câu thần chú đọc ở cuối cùng trong tâm kinh chẳng hạn... Trong Kinh Pháp Hoa, những phẩm cuối của kinh, phẩm nào cũng kết thúc bằng thần chú cả. Đó là những câu chỉ cần đọc mà không cần hiểu, nhưng nó có tác dụng trợ lực , linh thiêng.... Đấy chính là dấu vết Mantra của Mật tông (hay chính tông).

Không những chỉ mật tông, mà Yoga cũng cần dáng tay, và hình thể nói chung. Dáng ngồi Thiền mà người ta hay thấy trong những tượng phật, chính là một trong những dáng yoga này.

Nếu giả thiết là tượng Trần Nhân Tông là một tượng làm theo chuẩn của Đại thừa ( Indian Version ), thì có nghĩa là người làm tượng phải biết các chuẩn của văn hoá Ấn độ tôi đề cập ở trên. Vậy cái mudra (thế tay) tượng Trần Nhân Tông nói lên điều gì ?

1- Thứ nhất, tượng này không phải là tượng ngồi thiền. Vì nếu là tượng ngồi thiền, thì thế tay phải để trước bụng, hay lòng bàn tay phải ngửa lên trên và hai ngón cái phải chạm nhau. Ngay cả việc tượng( đang mở mắt ) cũng chứng tỏ nó không phải là tư thế ngồi thiền. Như vậy tượng Trần Nhân Tông được tạc với ý nghĩa một vị thánh.

2- Chính xác cái thế tay kia, ý nghĩa nó là gì. Rất đáng tiếc là tôi không tìm được chính xác. Nhìn trên ảnh thì thấy hai bàn tay của ngài để trên gối, lòng bàn tay úp xuống đất. Nhưng chỉ có 2 ngón chỉ xuống đất còn hai ngón út và giáp út thì cụp lại. Tôi không rõ đó là vì hay ngón tay này bị gẫy, hay tượng được tạc như thế. Cách đây rất lâu, khi tôi tò mò tìm hiểu những điều này thì tôi nhớ là thế tay kiểu này là thế tay : trị vì (souverainty), kiểu như một vị vua. Dường như là ý nói " sở hữu đất này".

Vì không tìm lại được cái thế mudra chính xác, tôi đành nhận xét ở đây theo kiểu suy luận, tức là chập các mudra có hình thức hao hao như thế để đoán. Có hai hình mudra có vẻ gần gũi nhất với thế tay tượng này đó là thế tay phật lấy đất làm chứng cho mình đã giác ngộ. Thế đó một tay để trên đầu gối, lòng bàn tay quay xuống dưới, nhưng cả 5 ngón tay đều chỉ xuống đất. Còn tay kia thì để vào giữa lòng, khum lại, ngửa lòng bàn tay lên trên như là thế thiền. So với thế tay tượng Trần Nhân Tông thì nó giống việc tay chỉ đất úp xuống dưới, nhưng tượng úp cả hai tay. Chứ không phải một.

Nếu hai ngón tay không bị gẫy, mà người ta tạc như thế, thì thế tay hai ngón chỏ giơ ra được gọi là thế Bát nhã (Prajana) tức là đã ngộ , ngộ Bát nhã ba la mật đa (Prajana paramita). Ở trên tôi có nói tới trong Đại thừa( Indian version ) có các loại tượng Prajana paramita, nhưng tôi cũng nói thêm là nó là tượng nữ. Cũng phải nói thêm nữa, là cái tượng Prajana paramita mà tôi thấy ở bảo tàng châu Á ở Paris, về hình thức là tượng mẹ của vua Chàm. Có nghĩa là nó còn được dùng như thờ cúng tổ tiên. Cái này thì cũng hiểu theo suy luận logic , vì người mất được coi như đã đi qua bờ bên kia, cũng là ý nghĩa của từ parammita.

Vậy tượng của Trần Nhân Tông có thể coi là loại tượng này không ? Tôi chịu. Vì thế cứ để ngỏ nó như thế này cho mọi người suy ngẫm tự tìm hiểu.


Tả Thiên Thanh

Có thể đọc và tìm hiểu thêm ở đây : http://vietbao.vn/Van-hoa/Phat-hien-nep-ao-tieu-thua-tren-tuong-Tran-Nhan-Tong/2 0767229/181/



Phát hiện vết nếp áo tiểu thừa trên tượng vua Trần Nhân Tông


Tiểu thừa còn được gọi là Theraveda (Phật giáo nguyên thuỷ) hay Hinayana, là phật giáo hiện tại ở phần lớn các nước ĐNA : Miến điện, Thái lan, Lào, Campuchia, Nam bộ (VN)...Người Kinh theo phật giáo Đại thừa (Mahayana) giống như ở TQ, Triều tiên, Nhật Bản .

Đạo Phật vào ĐNA qua đường biển bắt đầu từ khoảng đầu công lịch, tức là khoảng 500 năm sau khi Phật Thích Ca nhập Niết bàn. Phật giáo theo chân các thương nhân Ấn độ trên đường đi tìm vàng và hương liệu. Các thương nhân Ấn thường theo đạo Phật, vì nếu họ theo đạo Bà la môn một cách thuần thành thì không được phép rời Ấn Độ, còn trong đạo Phật không có điều cấm kỵ ấy. Cũng có người cho rằng phật giáo xuất dương vì chính sách truyền đạo Phật của vua Ashoka (tiếng việt vua A dục), lại có cả thuyết các đoàn truyên giáo Ấn đã từng đặt bảo tháp, hay cột kinh ở Đồ Sơn (Hải phòng). Khi đạo phật xuất dương như thế thì đó là đạo phật đương đại ở Ấn Độ. Lúc đó đạo phật thịnh hành ở Ấn là đạo Phật Đại thừa, thậm chí còn là dòng cuối cùng của Đại thừa là Mật tông (Tantrisme) chứ không phải là phật giáo Nguyên thuỷ (theraveda). Như vậy việc phật giáo du nhập vào ĐNA đi theo quá trình ngược lại của phát triển phật giáo ở Ấn độ. Nó bắt đầu bằng Mật tông (Tantrisme), rồi Đại thừa (Mahayana), và cuối cùng là Tiểu thừa (Theraveda). Trong khi theo lịch sử phật giáo thì Theraveda có trước, rồi tới Mahayana cuối cùng là Tantrisme.

Trong quá trình giao lưu văn hoá với các sắc dân bản địa ở ĐNA (người Môn, người Khơ me, người Mã lai, người Piu, người Chàm, người Kinh ,..) văn hoá Ấn độ thâm nhập vào vùng đất này. Ngoại trừ Giao Chỉ, tức là miền Bắc và bắc trung bộ VN đã có một hệ thống hành chính kiểu TQ (lúc này là thời Bắc thuộc), các tộc người khác đều chịu ảnh hưởng văn hoá Ấn độ mà lập nước. Nhà nước kiểu Ấn độ đầu tiên được thành lập ở ĐNA còn được ghi lại trong sử (qua các sử gia TQ) là nhà nước Lâm Ấp mà trung tâm của nó là tỉnh Hà tĩnh ngay nay.

Trong các nhà nước này, chính quyền được cấu thành theo kiểu vua Thần (Devaraja), xã hội có đẳng cấp, theo kiểu Bà la môn. Tông phái Bà la môn thịnh hành nhất là phái thờ thần Silva, mà biểu tưởng là cái linga, như người ta còn thấy ở di tích Mỹ sơn, ở các tháp Chàm, hay ở các di tích khác ở các nước ĐNA... Bên cạnh đó tồn tại Phật giáo Đại thừa. Ở vùng đất mà ta quan tâm vì có quan hệ mật thiết với VN là Campuchia, Champa... thì đạo phật Đại thừa hưng thịnh nhất vào thời vua Jayavarman VII thế kỷ XII. Lúc này phật giáo Đại thừa là quốc đạo ở Campuchia (lúc đó là Phù Nam), và cũng đồng thời là quốc đạo ở Champa, vì Champa bị nội thuộc vào Phù Nam khoảng 20 năm trong thời kỳ này. Sau khi Jayavarman mất thì ở Campuchia, quyền lực lại trở về với tông phái Silva của đạo Bà la môn.

Vào thời điểm vua Trần Nhân Tông sang tham Champa , rồi hứa gả công chúa Huyền Trân cho vua Chàm lúc này là Chế Mân ở nước này trong cung đình thì theo đạo Bà la môn phái Silva, còn dân chúng nói chung theo đạo Phật đại thừa. Dấu vết của đạo phật đại thừa còn để lại đến ngày nay qua các bức tượng Quan Âm (Avalokitesvara) hay tượng Bát nhã ba la mật đa (Prajnaparamita). Một trong hai biểu tượng lớn nhất của phật giáo Đại thừa. Tượng Bát nhã Ba la mật đa thường là tượng có hình phụ nữ. Loại tượng này không tồn tại ở Đại Việt cũng như là ở các nước Đông Á theo phật giáo Đại thừa khác như Nhật, Triều tiên, Trung quốc. Còn tượng Quan Âm thường được tạc với hình đàn ông hay thuộc dạng , chứ không phải là " Phật Bà " như ta quan niệm. Trong bảo tàng châu Á ở Paris, khách viếng thăm có thể chiêm ngưỡng những bức tượng này. Tôi không rõ trong bảo tàng Chàm ở Đà nẵng, có loại tượng này không ?. Tóm lại không có phật giáo Tiểu thừa ở Champa, và nói rộng ra ở ĐNA vào thời kỳ đó để vua Trần mang về Đại Việt. Có lẽ vua Trần Nhân Tông chưa bao giờ được nhìn thấy tận mắt văn hoá phật giáo Tiểu thừa như thế nào. Ngược lại về mặt lý thuyết kinh kệ, thì đó là điều không phải xa lạ với bất cứ một người nghiên cứu phật giáo đại thừa nào, bởi vì trong các tông phái Đại thừa (nếu tôi không nhầm thì có 9 tông), trong đó có 3 tông là Tiểu thừa. 3 tông Tiểu thừa này cũng thịnh hành ở TQ vào khoảng thế kỷ thứ IV đời nhà Tuỳ, trước khi tịnh diệt. Cho đến nay, khi người ta học theo phật giáo Đại thừa, cũng vẫn có phần nói tới 3 tông này.

Vậy cái áo trên tượng vua Trần Nhân Tông để hở vai phải có ý nghĩa gì ? Nó chỉ có ý nghĩa là y phục của tăng ni theo phật giáo Đại thừa theo kiểu ĐNA ,không chịu ảnh hưởng của y phục TQ mà thôi. Nó cũng chứng tỏ, phật giáo vào VN theo nhiều nguồn, có nguồn trực tiếp từ ĐNA lên có nguồn từ TQ xuống. Người ta cũng có thể suy rộng ra là y phục của phật giáo VN thời nhà Trần là y phục phật giáo như ở các nước ĐNA, được truyền trực tiếp từ Ấn độ qua. Trong khi kinh kệ, vì dùng chữ Nho nên lại nhập từ TQ qua. Vì thế văn hoá VN mới được gọi là IndoChine (tức là ảnh hưởng của cả Ấn độ lẫn TQ, không kể phần bản địa). Nó cũng nói lên một điều là VN và TQ có nhiều điều giống nhau, nhưng không phải vì lý do VN học TQ, mà vì cả VN lẫn TQ đều học chung từ một nguồn, thậm chí cái nguồn ấy vào Việt Nam trước rồi mới sang Trung Quốc , mà phật giáo Đại Thừa là một ví dụ.

Cách để hở vai phải cũng có ở trong phật giáo TQ. Dấu vết của nó chính là cái vuông vải mầu vàng lớn, được vắt lên vai trong y phục của các hoà thượng TQ, mà người ta có thể thấy ngay cả trong những phim:mì ăn liền, chưởng, Kungfu của Hồng Kông ... Có điều khác là họ không khoác trực tiếp lên người, có lẽ vì đó là y phục của vùng Trung Á, hay có thể vì lạnh quá mà người ta không thể mặc thế được. Nhiều khi cái khăn vắt vai này còn có mô típ ca rô, bởi vì về nguyên thuỷ, đó là một trong tam cụ của chư tăng, và nó phải là vải chắp vá từ những miếng vải hoả thiêu người chết ghép lại.

Phật giáo Tiểu thừa thì vào ĐNA khá muộn, từ thế kỷ XIV, từ miền Nam Ấn (bang Tamil Nadu ở Ấn độ hiện tại). Tức là lúc mà bắc Ấn độ đã bị người Hồi giáo xâm lược và thống trị một phần. Đạo Phật ở Bắc Ấn và lưu vực sông Hằng đã bị huỷ diệt. Đại học phật giáo nổi tiếng Nalanda không còn nữa.

Những nhà nước theo phật giáo Tiểu thừa đầu tiên ở ĐNA là ở Hạ lưu sông Mê Nam của người Môn (đất Thái lan ngày nay), hay ở vùng đồng bằng ven biển Miến Điện. Sau này người Thái xâm lược Phù nam (Campuchia hiện tại), làm tan rã nhà nước này, cùng đồng thời truyền phật giáo Tiểu thừa vào. Nhưng phật giáo Tiểu thừa không bao giờ ra tới Champa. Ở nước này, sau phật giáo Đại thừa tuyệt diệt, người Chàm đã theo hồi giáo, cũng là do thương nhân Ấn truyền đạo chứ không phải trực tiếp từ người Ả rập. Dấu vết của nó là tông Hồi giáo Bani (nghĩa là hồi giáo cổ),hiện chỉ có trong tín ngưỡng của người Việt gốc chàm ở Phan rang, Phan Thiết, theo đó người ta vẫn theo mẫu hệ (dù hồi giáo là phụ hệ triệt để), và còn giữ được nhiều tín ngưỡng từ Ấn độ giáo. Ngược lại người việt gốc Chàm ở An giang hay Tây ninh, hay người Chàm ở Campuchia (tỉnh Công pông chàm) thì theo Hồi giáo đợt sau (nhập từ Java vào) thì phát triển mạnh hơn.

Tóm lại về mặt lịch sử, vua Trần Nhân Tông không thể nào tiếp xúc với một văn hoá phật giáo Tiểu thừa được, mà nó chỉ là phật giáo Đại thừa không bị văn hoá Trung quốc bản địa hoá mà thôi. Tức là ngài đã được mục kích một Original Indian version of Buddhism Mahayana , và cái nếp áo trên tượng của ngài là một minh chứng cho việc này.


 
Bạn có thể xem thêm hình và chi tiết bài viết tại đây ...

http://silenhill-badmonk.blogspot.com/2010/04/nep-ao-tieu-thua-tren-tuong-vua-tr an.html


http://www.thuvienhoasen.org/phathiennepaotieuthua.htm

Lạng Châu vãn cảnh - Trần Nhân Tông



諒 州 晚 景 - 陳 仁 宗

古 寺 淒 涼 秋 靄 外,
漁 船 蕭 瑟 暮 鐘 初。
水 明 山 靜 白 鷗 過,
風 定 雲 閒 紅 樹 疏。

Lạng Châu vãn cảnh - Trần Nhân Tông

Cổ tự thê lương thu ái ngoại,
Ngư thuyền tiêu sắt mộ chung sơ.
Thuỷ minh sơn tĩnh bạch âu quá,
Phong định vân nhàn hồng thụ sơ.

VIẾNG CẢNH LẠNG CHÂU

Chùa cổ êm đềm lẫn khói thu,
Thuyền về chiều xuống tiếng chuông đưa .
Núi lặng, nước yên chim âu trắng,
Gió đứng, mây ngừng, lá đỏ thưa ...

Badmonk - Tâm Nhiên



Ngôi chùa cổ lạnh lẽo sau lớp khói mùa thu,
Thuyền câu hiu quạnh chuông chùa bắt đầu điểm.
Nước trong núi lặng, chim âu trắng bay qua,
Gió im mây nhởn nhơ, cây lơ thơ lá đỏ

Vãn Hứng - Nguyễn Trãi



晚 興 - 阮 廌

窮 巷 幽 居 苦 寂 寥
烏 巾 竹 杖 晚 逍 遙
荒 村 日 落 霞 棲 樹
野 徑 人 稀 水 沒 橋
今 古 無 窮 江 漠 漠
英 雄 有 恨 葉 蕭 蕭
歸 來 獨 凭 欄 杆 坐
一 片 冰 蟾 掛 碧 霄

Vãn Hứng - Nguyễn Trãi

Cùng hạng u cư khổ tịch liêu,
Ô cân trúc trượng vãn tiêu dao.
Hoang thôn nhật lạc, hà thê thụ.
Dã kính nhân hi, thủy một kiều.
Kim cổ vô cùng giang mạc mạc,
Anh hùng hữu hận diệp tiêu tiêu.
Quy lai độc bẵng lan can tọa,
Nhất phiến băng thiềm quải bích tiêu

CHIỀU CẢM HỨNG

Ngõ vắng đường quanh lặng chơi vơi,
Khăn khâm nhàn chống gậy trúc chơi.
Bóng chiều bãng lãng xuyên tàn lá,
Đê vắng cầu nghiêng nước ngập rồi.
Mịt mùng sóng lẫn sầu kim cổ,
Anh hùng hận gửi lá vàng rơi.
Về ngồi tựa cửa lan can ngắm,
Một mảnh trăng treo lạnh giữa trời.

Badmonk - Tâm Nhiên


Trong ngõ cùng, ở nơi vắng vẻ, buồn nỗi quạnh hiu,
Khăn đen, gậy trúc đi dạo chơi buổi chiều.
Nơi thôn vắng, mặt trời xế, ráng đậu trên cây,
Con đường ngoài nội ít người qua lại, nước ngập cầu.
Xưa nay thời gian không cùng như sông chảy xuôi mờ mịt,
Anh hùng mang hận như tiếng gió thổi cây lá nghe vu vu.
Trở về một mình ngồi tựa lan can,
Một mảnh trăng sáng lạnh như băng treo trên nền trời biếc

Vãn hứng - Nguyễn Trãi




晚 興 - 阮 廌

窮 巷 幽 居 苦 寂 寥
烏 巾 竹 杖 晚 逍 遙
荒 村 日 落 霞 棲 樹
野 徑 人 稀 水 沒 橋
今 古 無 窮 江 漠 漠
英 雄 有 恨 葉 蕭 蕭
歸 來 獨 凭 欄 杆 坐
一 片 冰 蟾 掛 碧 霄

Vãn hứng - Nguyễn Trãi

Cùng hạng u cư khổ tịch liêu,
Ô cân trúc trượng vãn tiêu dao.
Hoang thôn nhật lạc, hà thê thụ.
Dã kính nhân hi, thủy một kiều.
Kim cổ vô cùng giang mạc mạc,
Anh hùng hữu hận diệp tiêu tiêu.
Quy lai độc bẵng lan can tọa,
Nhất phiến băng thiềm quải bích tiêu

CHIỀU CẢM HỨNG

Ngõ vắng đường quanh lặng chơi vơi,
Khăn thâm nhàn chống gậy trúc chơi.
Bóng chiều bãng lãng xuyên tàn lá,
Đê vắng cầu nghiêng nước ngập rồi.
Mịt mùng sóng lẫn sầu kim cổ,
Anh hùng hận gửi lá vàng rơi.
Về ngồi tựa cửa lan can ngắm,
Một mảnh trăng treo giữa tối trời.

Badmonk - Tâm Nhiên

Trong ngõ cùng, ở nơi vắng vẻ, buồn nỗi quạnh hiu,
Khăn đen, gậy trúc đi dạo chơi buổi chiều.
Nơi thôn vắng, mặt trời xế, ráng đậu trên cây,
Con đường ngoài nội ít ngườiqua lại, nước ngập cầu.
Xưa nay thời gian không cùng như sông chảy xuôi mờ mịt,
Anh hùng mang hận như tiếng gió thổi cây lá nghe vu vu.
Trở về một mình ngồi tựa lan can,
Một mảnh trăng sáng lạnh như băng treo trên nền trời biếc