Wednesday, July 7, 2010

Thuật Ngữ Võ Thuật E-F-G-H

Photobucket



E

Eagle Eye Fist: Phụng Nhãn Quyền .

Eagle Fist: Ưng Trảo quyền,Ưng Trảo Công .

Emei Boxing: Nga Mi Quyền, Quyền Pháp Nga Mi .

Emei Kungfu: Nga Mi Võ Phái, Võ Thuật Phái Nga Mi .

Enpi: Cùi chỏ ( tiếng Nhật )( (elbow strike) , Phựong dực ..... Phi Yến ????

Embu: Võ lễ , Lễ nhớ ơn , Quyền lễ . Chỉ động tác kính lễ trước khi đi quyền hoặc giao đấu. Đây là chiêu thức mang tính chất lễ nghĩa trong võ thuật, thường có: cung lễ (cúi mình), bao quyền lễ, hợp thập lễ, cử thủ lễ…

Eskrima : hay Escrima là một môn võ thuật sử dụng vũ khí của Philippines đôi khi người ta cũng dùng chữ viết tắt là FMA (Filipino Martial Arts, võ thuật Philippines)


F


Fencing: Môn Đấu Kiếm Tây Phương .

Fujia Taiji Quan : Phó gia Thái cực quyền , lập bởi Phó Chấn Tung (Fu Zhensong) (1881-195)

Fugi : Phất thủ , lắc cổ tay ...

Fire: Hỏa , hoả công ...

Five Elements: Ngũ Hành

Five Patterns: Ngũ Hình quyền (Five Styles, Five Animal Fist, Ng Ying Kuen)


G


Garrote: Sợi dây thép có nhỏ như dây đờn xử dung khi xiết cổ dối thủ từ phía sau của Ninja .

Gankaku Kata Nham Hạc quyền .

Gedan: Thấp , Phía dứoi .

Ganmen-Tsuki: Đấm vào cằm, mặt .

Gendai Budo: Võ thuật hiện đại .

Gong Li chuan: Công Lực , Công lực quyền thường xuất hiện trong các dòng nam phái chuyên luyện thở bằng đan điền ...

Gorin-no-Sho: Ngũ luân thư , Kinh ngũ luân thư ....

Godan: Đai đen ngũ đẵng ...

Goju Ryu: Cương Nhu Lưu .

Gia: Nhà , trong võ thuật chỉ một người nào đó có học tập, luyện tập, nghiên cứu một môn phái võ thuật, đồng thời có sự kế thừa và phát triển ...


H


Hapkido: Hợp khí Đạo Đại Hàn .

Happo : 8 hướng trước và sau trong Kyokushin , aikido , sabaki ...

Hangetsu Kata: Tên của bài quyền , Bán Nguyệt Quyền

Hakutsuru Karate : Bạch Hạc Không Thủ Đạo ( Môn phái được sáng lập bởi vs Hohan Soken )

Harakiri: Hành động mỗ bụng để tự sát ,đề cao danh dự của người võ sĩ Đạo Nhật Bản.

Hakama : Váy , võ phục tập Aikido ...

Hầu quyền: Võ Khỉ , Các thế võ lấy từ do các động tác của khỉ vượn mà tập hợp lại rồi thành các động tác phân hóa thêm trong quyền thuật.

Hwa-Rang- Do: Hoa Lang Đạo , một hệ phái võ thuật của Hàn Quốc .

Hachisabaki: Phương pháp di chuyển 4 phương hướng .

Hangetsu Dachi : Bán nguyệt tấn .

Hanshi: Cấp bậc từ cửu đẳng huyền đai trở lên .

Hàm Hung Bạt Bối : "Hàm hung"chỉ ngực thu lại để khí có thể trầm xuống Đan Điền. “ Bạt bối” là chỉ bộ phận cơ nhục ở lưng, vai thư triển, nở rộng khi thực hiện động tác đưa hai tay lên.( TCQ)

Heisoku-dachi: Tấn hai bàn chân chụm vào nhau, đầu gối duỗi thẳng.

Heiko Dachi: Tấn bước - moto dachi

Henka : Biến đòn , biến thế ...

Hạc Hình quyền : Crane Style, Crane Fist

Hiza: Đầu Gối .

Hiji : Cùi chỏ ...

Hijia Taiji Quan : Hòa gia Thái cực quyền , lập bởi Hòa Triệu Nguyên (HeZhaoyuan) (1810-1890), đệ tử của Trần Thanh Bình.

Hình Ý Quyền: Xing Yi quan hay Xing Yi chuan hoặc Xing Yi Animal Fist.

Hung Gar Kuỳn: Hồng Gia quyền (Hung Gar Kuen, Hung Style, Red Fist)

Hung Kuen: Hồng Quyền .

Hwa-Rang: Hiệp Sĩ Hoàng Cung , Đạo quân Hoa Lang (Tiếng Hàn )

Ho : Phương pháp ...

Hombu : Tổng đàn , tổ đình ...

Hổ Hạc Song Hình Quyền: Crane and Tiger Paired-form , Fu Hok Seung Ying Kuen

Hồng Gia Quyền La Phù Sơn: Hung Ga Kuen Luofu Shan 

Thuật Ngữ Võ Thuật A-B-C--D

Photobucket


A

Aikibudo: Hiệp khí võ đạo

Aikido: Hiệp khí đạo .

Aikaikan : Hiệp hội Aikido ...

AikiJujitu: Hiệp Khí Nhu Thuật ( Daito Ryu )Danh từ này được Tổ sư UESHIBA sử dụng từ năm 1922 đến thập niên 1930 , để chỉ môn võ của mình (giai đoạn sơ khai của Aikido).

AikiDoka : Võ sĩ Hiệp-Khí-Đạo , người tập luyện Aikido lâu năm ...

Aikijo : Cây gậy hay côn của Hiệp Khí Đạo ...

Aikiken : Kiếm của Hiệp-Khí-Đạo.

Age Tsuki: Đấm móc dưới lên ...

Ato No Sen : Tiên xuất thủ, ra tay trước khi đối thủ tấn cộng..

Atemi: Tờ Thư bỏ trong bao thư ( Sự áp dụng một kỹ thuật tuỳ theo trường hợp , Đương thân, Điểm huyệt, đánh vào (chỗ trọng yếu) cơ thể người , đánh vào tử huyệt , Cavity Strikes ...)

Ai Deshi : Đệ tử cùng một thầy , bạn đồng môn .

Aite : Đối thủ , đối địch ...

Áp hình quyền : Võ con dzịt bầu , vịt xiêm quyền ...

Arnis : ( Kali, Eskrima, Escrima) là một môn võ thuật sử dụng vũ khí của Philippines. Môn võ này cũng đã có mặt tại một số quốc gia Đông Nam Á dưới những tên gọi khác như Krabi Krabong hay Trumbu.


B


Bando: Một môn phái chuyên về nhu của Miến Điện .

Bát Bộ Chân Quyền: Bài quyền là sự kết hợp 24 thế căn bản của võ Bình Định đươc góp lai (Các thế tấn , chân quyền của thầy Trương Thanh Đăng - MP Sa Long Cưong )

Bát Bất Truyền: Chỉ tám loại đối tượng không thể truyền dạy võ nghệ, đó là: Người bất trung bất hiếu, người tâm địa xấu xa, người tâm thuật bất chính, người lỗ mãng thô tục, người không coi ai ra gì, người vô lễ vô ơn, người phản phúc bất thường, người dễ được dễ mất.

Bát Đoạn Cẩm: Tám đoạn gấm ( 8 động tác luyện khí ở gân cân cơ )

Bát Quái: Thời xưa dùng tám hiện tượng tự nhiên tượng trưng là Thiên, Địa, Lôi, Phong, Thủy, Hỏa, Sơn,Trạch ứng với tám quẻ Càn, Khôn, Chấn, Tốn, Khảm, Ly, Cấn, Đoài .

Bát Quái chưởng: Bagua Zhang , của phái Võ Đang

Bát Mạch: Tên gọi chung của mạch Nhâm, Đốc, Xung, Đối, Âm kiểu, Dương kiểu, Âm duy và Dương duy?

Baguazhang: Bát Quái Chưởng ( Bằng, Loát, Tễ, Án, Thái, Liệt, Trừu, Hạo )

Bodhidharma: Bồ Đề Đạt Ma ( Puti Damo (có nguồn gốc từ tiếng Ấn Độ cổ hay tiếng Phạn (Sankrit )

Bo : Cây gậy , côn

Bogu: Giáp dùng trong tập luyện Kendo .

Bokken: Mộc kiếm, kiếm gỗ .

Bojutsu : Kỷ thuật đánh gậy ...

Buki : Binh Khí dùng trong võ thuật ...

Bunkai: Phân thế từ bài quyền .

BJJ Jujitsu: Nhu Thuật Ba Tây .

Bushido: Võ Sĩ Đạo .

Budo Damashi: Tinh Thần Võ Đạo .

Budoka : Người luyện tập võ thuật ...

Bút Sắt: Ngọn giáo, ngọn mác hoặc mũi sắt cắm trên cán tre, khi dùng uốn cong cán để phóng mũi vào mục tiêu

Bút Chì: Mai hoặc thuổng có buộc dây thừng ở cán .

Thiết Lĩnh: 2 thanh gỗ hoặc tre nối với nhau bằng dây, giống côn nhị khúc kiểu tử mẫu côn .

Bộ Nhãn: Thuật ngữ võ thuật, đó là bộ vị, bộ điểm đạt được thế tốt nhất khi giao chiến. Nó bao gồm phương vị, cự ly, thời cơ để làm sao giành được thế chủ động ...


C


Capoeira : Môn võ thuật xuất phát từ Brasil

Channgjia Taiji Quan : Thường gia Thái cực quyền , thành lập bởi Thường Đông Thăng (Chang Dongshing) (1909-1986)

Chang Quan: Trường quyền ( Long Fist)

Chao Yang Quan: Triều Dương quyền .

Chen family style Tai Chi ch’uan : Trần thức Thái Cực quyền

Chudan Geri: Đòn đá tầm trung đẳng .

Chinkon : Cách luyện định tâm ...

Chin Na: Cầm Nã Thủ .

Chokki: Cước pháp , những đòn chân .

Chokusen No Ỉrỉmi: Đánh nhập nội ...
Cửu Bộ Thối: (Gau Bo Toi), có nghĩa là chín bước chân.

Cửu cung: Là một biến thiên của bát quái khi thêm trung cung, tạo ra chỉnh thể tương ứng với quy luật vận hành của con người. Đây là một kiến tạo nhằm đáp ứng cho nhu cầu vận động của một số lượng người nhiều


D


Da Hong Quan: Đại Hồng quyền .

Da Luohan Quan: Đại La Hán quyền .

Da Fuk Fu Kuen: Đại Phục Hổ quyền .(Big Tiger Fist, Big Tiger Form)

Dachi-waza: Tấn pháp Dachi-waza .

Dan-kyu: Đẳng cấp .

Dan rank: Đẳng cập

Dĩ công vi thủ: lấy công làm thủ .

Dĩ đả vi tiêu: lấy đánh làm hóa giải .

Doshu : Chưởng môn , Người khai sinh ra môn phái với kỷ thuật đặc trưng riêng , Founder

Dojo: Võ đường .

Dojocho Người lãnh đạo hay đứng đầu võ đường ...

Dojo kun: Lời tuyên thệ của võ đường .

Điểm huyệt: Dim Mak ( Cavity Strikes , đánh huyệt .... )

Đường Lang quyền: Mantis Fist , Mantis Form

Tuesday, July 6, 2010

Khúc ca xuân

Photobucket

春詞  李建勳

日高閒步下堂階,
細草春莎沒繡鞋。
折得玫瑰花一朵,
憑君簪向鳳凰釵。

Xuân Từ

Nhật cao nhàn bộ hạ đường gia
Tế thảo xuân toa một tú hài .
Chiết đắc mai côi hoa nhất đóa
Bằng quân trâm hướng phượng hoàng sai .


Khúc ca xuân

Trưa vàng gió nhẹ qua thềm
Gót hồng cỏ níu , chân mềm hài thêu
Người yêu sao lại ... tần ngần
Chờ anh gắn vội đôi trâm Phượng Hoàng.

Budo- tồn tại giữa Triết Lý, Tôn giáo và Triết Học.

Photobucket


Điều quan trọng nhất trong kiếm thuật là đạt được một thái độ tinh thần gọi là “sự khôn ngoan bất định”. Sự khôn ngoan đó đạt được theo trực giác sau khi tập luyện nhiều. “Bất định” không có nghĩa là cứng chắc, nặng nề, và vô tri như gỗ đá. Nó có nghĩa là sự di động cao độ nhất với một trung tâm bất định. Tinh thần lúc này đến một điểm nhanh lẹ cao nhất, sẵn sàng hướng sự chú ý của nó đến bất cứ nơi nào cần thiết – qua trái, qua phải tới mọi hướng đòi hỏi. Khi sự chú ý của ngươi nhập cuộc và bị cây kiếm của địch thủ tung ra chặn lại, ngươi mất dịp đầu tiên để làm động tác kế tiếp. Ngươi chờ đợi, ngươi suy nghĩ, và trong khi ngươi làm thế, địch thủ của ngươi sẵn sàng đốn hạ ngươi. Việc của ta là không để cho hắn được dịp tốt như vậy. Ngươi phải theo động tác của cây kiếm trong tay địch thủ, để cho tâm trí ngươi tự do làm động tác phản đòn không cần sự can thiệp của ngươi. Ngươi phải xuất thủ khi địch thủ xuất thủ, và kết quả là hắn bại.  Ở đây không có sự trung gian nào, động tác này theo động tác kia không bị gián đoạn vì ý thức của người chủ động. Nếu người bị bối rối và suy nghĩ phải làm gì, thấy địch thủ sắp đốn hạ ngươi, ngươi để cho hắn một khoảng trống, nghĩa là một dịp tốt để chém giết ngươi. Hãy để đòn tự vệ của ngươi theo đòn tấn công không một giây phút gián đoạn, và không hề có hai động tác rời gọi là tấn công và tự vệ, Sự tức tốc của động tác về phía ngươi chắc chắn sẽ kết thúc trong sự bại trận của địch thu?. Nó giống như một con thuyền êm xuôi theo dòng thác; trong Zen, cũng như trong kiếm thuật ...  

Trong tiếng Nhật "Do" có nghĩa là Đạo. Tất cả chúng ta đều biết rằng sức mạch cơ bắp cũng như tinh thần của loài người là hữu hạn. Trí thông minh của chúng ta cũng nằm trong giới hạn của loài người. Một người không thể mạnh hơn sư tử và thông tỏ mọi chuyện hơn Thượng Đế. Thế nhưng tại sao không thử vượt qua ranh giới này?

Chính vì mục đích ấy mà Budo Nhật bản đã sáng tạo ra  "Wasa" một kỹ thuật siêu đẳng chân truyền từ thủa tiền thân của Samurai   Trong tiếng Nhật "Do" có nghĩa là Đạo. Vậy thì làm sao có thể đạt tới nó ? Bằng phương pháp nào ? Tất cả chúng ta đều biết rằng sức mạch cơ bắp cũng như tinh thần của loài người là hữu hạn. Trí thông minh của chúng ta cũng nằm trong giới hạn của loài người. Một người không thể mạnh hơn sư tử và thông tỏ mọi chuyện hơn Thượng Đế. Thế nhưng tại sao không thử vượt qua ranh giới này?

Zen lại có một kỹ thuật khác, đó là "Zazen" - một cách tập luyện về khí chất và tinh thần trong mọi tư thế: ngồi xếp chân, đi bộ, đứng thẳng, tập hít thở đung Zazen đem lại không những chỉ sức mạnh của cơ bắp và tinh thần nó còn mở ra con đường đi tới Giác Ngộ. Nó hội tụ trong mình những môn võ thuật Nhật bản. Budo đã làm sâu sắc thêm mối quan hệ vốn từng tồn tại giữa Triết Lý, Tôn giáo và Triết Học. Không thể chỉ bằng cách tập luyện công phu kỹ thuật của các môn võ để hướng tới Budo .Thế nhưng trong kiểu chữ kanji thì "Bu" còn có nghĩa là dừng lại, không đánh nhau nữa. Lẽ đơn giản bởi vì Budo không chỉ có nghĩa vươn tới các đỉnh cao mà nó hướng con người ta tới sự thanh thản và biết tự làm chủ bản thân mình , và giúp người chiến minh vượt lên cao hơn chính sức mạnh của bản thân mình.

 
 
Bushido - The way of the Warrior - The Unfettered Mind

Tâm niệm của Samurai

Photobucket

" Đi thẳng tới trước không ngoái nhìn lui”, là một trong những câu trả lời của các thiền sư hay một phái thiền tông dạy rằng : Sống và chết chỉ là hai khía cạnh của một hiện hữu, và chỉ cho người ta thấy, có thể quên bản ngã bằng cách nhập làm một với sự sống. Bushido đòi hỏi sự trung thành tuyệt đối, lòng dũng cảm vô biên. Tâm niệm của người võ sĩ đạo Samurai là:
 
Tôi không có cha mẹ nào ngoài trời đất
Tôi không có thần linh nào ngoài lòng cương trực
Tôi không có của cải nào ngoài sự phục tùng  
Tôi không có phép lạ nào ngoài sức mạnh nội tâm
Tôi không có sinh tử nào ngoài sự bất diệt
Tôi không có mắt nào ngoài tia chớp
Tôi không tai nào ngoài sự bén nhạy
Tôi không có tay chân nào ngoài sự nhanh nhẹn
Tôi không có mục đích nào ngoài cơ hội
Tôi không có thần thông nào ngoài chánh pháp  
Tôi không có nguyên tắc nào ngoài sự thích ứng  
Tôi không có bạn nào ngoài tâm tôi
Tôi không có kẻ thù nào ngoài sự bất cẩn
Tôi không có khí giới nào ngoài thiện chí và chánh đạo
Tôi không có lâu đài nào ngoài tâm bất động
Tôi không có gươm nào ngoài giấc ngủ của tâm


Bushido cũng rất đề cao sự công bằng, sự rộng lượng, tình yêu, sự chân thành, trung thực và tự kiểm soát bản thân. Công bằng là một trong những phẩm chất của người chiến binh Samurai. Những hành động gian giảo, không trung thực bị coi là hạ đẳng và phi nhân đạo. Tình yêu và sự rộng lượng là phẩm chất đạo đức tuyệt đối và hành động quân tử. Samurai tuân theo những quy tắc này cả trong cuộc sống hàng ngày của họ lẫn khi trên chiến trường. Chân thành và trung thực có giá trị ngang với mạng sống của samurai. Để được đề cao, người samurai cũng cần biết tự kiểm soát và nhẫn nại. Không bao giờ Samurai thể hiện ra bên ngoài sự đau đớn hay niềm vui của bản thân. Người Samurai phải cố chịu đựng tất cả, không kêu rên hay khóc lóc hay van xin kể cả mạng sống .Với tinh thần của Bushido đã tạo cho người  Samurai thật đúmg là một chiến binh thực sự hoàn hảo 

 Hagakure : The Book of the Samurai - Yamamoto Tsunetomo


Bushido với Phật Giáo, Thiền Tông , Khổng Giáo và đạo Shinto

Photobucket


Tư tưởng và tín ngưỡng của Phật Giáo, Thiền Tông , Khổng Giáo và đạo Shinto đã tạo nên nền tảng chính tạo nên  tinh thần của Bushido.

Với Phật Giáo, Bushido có ảnh hưởng về nỗi nguy hiểm , sự sợ hãi và luân hồi của sự sống và chết. Người Samurai không sợ chết vì như Phật dạy, sau khi chết họ sẽ được hồi sinh và sống một cuộc sống khác trên trái đất. Do đó người chiến binh Samurai luôn là các chiến binh từ khi họ bắt đầu là Samurai cho đến khi họ chết và do đó họ không sợ mọi nguy hiểm hay sự sợ hãi ; có chăng họ chỉ sợ mất đi lòng trung tín .

Với Thiền tông , một người có thể đạt đến sự "Tuyệt đối", một tầm mức Vô ngôn ; những suy nghĩ và không thể dùng một từ ngữ nào có thể diễn tả nổi. Thiền tông đã góp một phần chính yếu trong việc dạy và chỉ thẳng rỏ ra cho những Samurai biết về bản thân mình. Và từ đó tinh thần Bushido không đã thấm nhuần và từ đó các chiến binh lần lược tự cởi trói những giới hạn trong chính bản thân mình. Samurai dùng triết lý này để tiến đến sự vượt qua sự sợ hãi, mất thăng bằng và sự sai lầm cho chính tự ngã bản thân .

Đạo Shinto, một đạo giáo khác của Nhật Bản, đã thổi vào tinh thần Bushido cho các chiến binh Samurai thêm về lòng trung thành và lòng yêu nước . Đạo Shinto đề cao gia đình Hoàng Gia, và Nhật Hoàng chính là đấng quyền uy nhất trên trái đất; họ là con cháu của Thái Dương Thần Hệ . Những chiến binh Samurai luôn thề trung thành với Hoàng đế và chỉ huy tối cao của họ. Đạo Shinto cũng đề cao tinh thần yêu nước Nhật Bản . Đất không đơn thuần cho nhu cầu hàng ngày mà đất nơi ở của trời, của tâm linh tổ tiên những người Samurai. Đất chăm lo, bảo vệ và nuôi dưỡng những con người yêu nước.

Khổng Giáo thì lại đem đến cho Bushido niềm tin về mối quan hệ giữa người với người, với gia đình. Có năm mối quan hệ đạo đức được Khổng Giáo đề cao: quan hệ giữa chủ và tớ, cha và con, chồng -và vợ, anh với em, và bạn bè . Những mối quan hệ đạo đức mà Samurai phải tuân theo. Tuy nhiên, những chiến binh Samurai không đồng ý với một số triết lý khác của Khổng Tử ... Họ tin rẳng người đàn ông chỉ ngồi và đọc sách suốt ngày hoặc làm thơ cả ngày để trở thành một nhà hiền triết sẽ chỉ là một cái máy không hơn không kém . Thay vào đó, Tinh thần  Bushido coi việc người đàn ông và vũ trụ được tạo ra có cả tinh thần lẫn đạo lý



Hagakure : The Book of the Samurai - Yamamoto Tsunetomo

Saturday, July 3, 2010

Tên và ý nghĩa các cấu tạo trên thanh Katana

Photobucket

Tên và ý nghĩa các cấu tạo trên thanh Katana

Có lẽ không ai không công nhận rằng kiếm Nhật là một thứ vũ khí vô cùng sắc bén và nguy hiểm Không những thế, câu chuyện về những thanh kiếm được rèn luyện công phu hoặc được những anh hùng huyền thoại sử dụng, từ đó trở thành những thanh bảo kiếm độc nhất vô nhị và được nhiều người săn lùng, là những chuyện hoàn toàn có thật chứ không mang tính hư cấu hay tưởng tượng hoang đường .

1. Saya: bao kiếm
2. Tsuka: chuôi kiếm
3. Menuki : Là các huy hiệu hay gia huy đính trên trên Tsuka .
4. Tsuba: tấm chắn che tay , tấm bảo vệ tay ...
5. Fuchi : Fuchi là miếng chặn và bọc giữa tsuka và tsuba
6. Kashira: đốc kiếm
7. Ha: lưỡi kiếm


1. Saya :Để có được một thanh kiếm hoàn hảo thì bên cạnh lưỡi kiếm sắc bén nhất định phải có một cán kiếm thích hợp và một bao kiếm đúng cách. Muốn làm một bao kiếm, người thợ phải làm hai mảnh vừa khít theo đường cong của kiếm rồi dán lại với nhau bằng một loại hồ nấu bằng gạo ( Bây giờ thì người ta dùng keo dán ) Điều kiện quan trọng nhất là bao và kiếm không được tiếp xúc với nhau mà vẫn phải vừa khít vì hơi ẩm của bao gỗ có thể làm sét rỉ kiếm. Màu của bao kiếm thông thường gồm 5 màu: vàng, đỏ, đen, xanh dương và trắng. Đa số các bao kiếm làm bằng gỗ, bên cạnh đó cũng có loại vật liệu khác như ngà, sắt... Chế tạo bao kiếm là một công đoạn rất phức tạp đòi hỏi tài năng nơi người thợ.


2. Tsuka : Là cái chuôi kiếm .Độ dài của Tsuka tùy loại kiếm và tùy người sử dụng. Trên các tsuka thường được quấn các vòng vải bằng cotton hay lụa, còn được gọi là tsuka-ito, nhằm tăng ma sát (và để làm đẹp ) Có các kiểu quấn tsuka chính: Hineri-maki, là kiểu quấn cơ bản; Tsunami-maki; Hira-maki (lối quấn cổ dành cho các thanh Tachi) và Katate-maki với phần đầu và đuôi quấn theo lối Hineri-maka, đoạn giữa quấn thẳng.
Photobucket

3. Menuki :Đính trên Tsuka là các hình chạm nổi rất đẹp, có thể là gia huy của chủ nhân thanh kiếm .
Photobucket
Photobucket

4. Tsuba : phân chuôi kiếm - lưới kiếm ra thành 2 phần và để chặn lưỡi kiếm của địch khỏi quét vào tay mình. Tsuba có thể làm bằng sắt hay nạm vàng, bạc,
đồng...Tsuba cũng được xem là một tác phẩm nghệ thuật với những hình ảnh như cỏ cây, hoa lá hoặc những linh vật cầu mong may mắn cho kiếm sĩ. Do đó, ngày nay tsuba cũng được các nhà sưu tập tìm mua với giá rất cao ...
Photobucket

5.Fuchi : là miếng chặn giữa tsuka và tsuba, thường đi kèm đồng bộ với kashira .
Photobucket
Photobucket
6. Kashira :Phần ở cuối cùng bọc ở chuôi kiếm , Kashira cũng là một nghệ phẩm giá trị của thanh kiếm.
Photobucket
7. Ha: lưỡi kiếm : Từ những " Hamon " ( Lời văn,Ký tự, hoa văn lượn sóng) trên lưỡi kiếm cho đến những dấu hiệu, kí tự khác trên kiếm...chính là nguồn thông tin quan trọng giúp ta có thể biết được niên đại lịch sử cũng như quá trình chế tác thanh kiếm. Vì thế muốn đánh giá một thanh bảo kiếm thì đừng quên bỏ qua những chi tiết quan trọng này.

Kĩ thuật kitaeru (rèn kiếm) và mài kiếm là một bí quyết, một nghệ thuật mang tính truyền thống lâu đời mà theo đó, thanh kiếm không chỉ là vũ khí để chiến đấu và giết chóc nữa mà nó còn mang cả tinh thần của giới Bushido hay người  dân Nhật Bản. Nếu  chúng ta hay các nước khác có sử dụng kiếm thì chỉ dừng lại ở mức sử dụng và tôn trọng thanh kiếm. Còn người Nhật đã nâng nó lên thành "Đạo", và thanh kiếm gắn liền với sinh mạng cũng như nhân cách người võ sĩ Đạo : kiếm còn người còn, kiếm mất người cũng vong thân .

Thursday, July 1, 2010

Dạ vũ - Bạch Cư Dị

Photobucket

夜 雨  白 居 易

早 蛩 啼 復 歇
殘 燈 滅 又 明
隔 窗 知 夜 雨
芭 蕉 先 有 聲

Dạ vũ - Bạch Cư Dị

Tảo cung đề phục yết.
Tàn đăng diệt hựu minh.
Cách song tri dạ vũ.
Ba tiêu tiên hữu thanh
.


Mưa Đêm

Sáng lên tiếng dế chợt ngừng
Hoa đèn rụng bấc tưởng chừng cháy mau
Đêm qua mưa ướt sân sau ?
Hay sương đọng giọt trên tàu chuối non ... 

Bushido - Tinh thần võ sĩ đạo

Bushido
Bushido - Tinh thần võ sĩ đạo

Từ ngàn xưa, bên cạnh những hiện tượng thiên nhiên như động đất, núi lửa, sóng thần luôn đe doạ cuộc sống của người Nhật thì họ còn phải đối phó với nạn giặc dã, cướp bóc, các lãnh chúa (Daimyo) cát cứ ở các cùng thôn tính lẫn nhau. Hoàn cảnh sống phải luôn đấu tranh với ''kẻ thù bốn chân và hai chân'' làm nảy sinh niềm tin vào thần linh để cầu mong sự che chở nhưng đồng thời cũng tạo cho người Nhật xưa một bản năng tự vệ tích cực. Từ đó sớm hình thành tinh thần thượng võ. Việc rèn luyện võ nghệ để bảo vệ làng xóm, gia tộc đã trở thành lý tưởng của tầng lớp thanh thiếu niên và từ đó sớm hình thành tầng lớp võ sĩ....
Dưới thời Mạc Phủ Tokugawa, có hơn hai thế kỉ hầu như không có chiến tranh. Nền kinh tế thị dân ngày càng phát triển cùng với những luồng tư tưởng mới và khoa học, kỹ thuật tràn từ bên ngoài vào, nhất là từ Hà Lan,Trung Quốc. Tình hình kinh tế -xã hội đương thời có những yêu cầu mới đặt ra phải giải quyết. Cuộc sống hoà bình và những chuyển biến mới trong xã hội cần nhiều nhân tài có học để cai trị hơn là chỉ giỏi võ nghệ.Trong tình hình mới, tầng lớp võ sĩ, lực lượng nòng cốt của chính quyền Shogun phải tinh thông cả văn lẫn võ.Giai cấp thống trị phải dựa vào tầng lớp samurai nhưng mặt khác cũng rất nhạy cảm với yêu cầu mới của thời đại. Từ đó các Shogun thường khuyên bảo thuộc hạ của mình ''tay trái cầm sách, tay phải cầm kiếm'' và đừng quên ''văn ôn võ luyện''. Để giải quyết điều này, giáo thuyết về cách xử thế của người võ sĩ ra đời, được gọi là đạo võ sĩ (BUSHIDO).Có thể nói võ sĩ đạo là sự dung hoà nhạy bén giữa cái cũ và cái mới. Thực chất đấy là những giáo lý văn trị dựa trên cơ sở tinh thần thượng võ của giai cấp vũ sĩ, không phủ nhận vai trò, bổn phận của người võ sĩ.
Theo học giả Inazo Nitobe giải thích thì đạo võ sĩ là đạo luật ghi rõ những phương châm sinh tồn và phát triển ,tiến hoá của hạng người có tinh thần thượng võ. Là tín đồ của đạo võ sĩ, phải thực hành đúng những phương châm căn bản đó. Song bộ luật võ sĩ dưới cái tên Bukeshohatto(vũ gia chư pháp độ)không có hình thức nhất định. Phương châm của đạo võ sĩ là những câu châm ngôn thường được truyền tụng từ thế hệ này sang thế hệ khác của những nhà thông thái và các võ sĩ có tên tuổi trong nước lưu truyền lại. Giáo lý của đạo võ sĩ có tám đức tính căn bản nhất mà người vó sĩ phải rèn luyện:
- Đức ngay thẳng: Giúp cho con người quyết định công việc một cách nhanh chóng, thẳng thắng, hợp với lẽ phải không trái với lương tâm.Nếu cần phải chết để bảo toàn danh dự thì cũng sẵn sàng. Đứng trước một trường hợp khó khăn, phải biết lấy trí khôn mà suy xét, đừng trốn tránh bổn phận làm người.
- Đức dũng cảm: Giám xông vào nơi nguy hiểm, ác liệt nhất của trận chiến và hy sinh thân mình, đó là việc dễ và chỉ là nhiệm vụ của con nhà võ bình thường. Còn thực chất của đức dũng cảm là biết sống khi cần phải sống, biết chết khi nào cần thiết.Thấy việc nghĩa không làm, không phải là dũng cảm. Đức tính này phải được rèn luyện từ nhỏ. Con trai của người võ sĩ cần được luyện tập, chịu đói khát, khổ sở để khôn lớn, xông pha vào cuộc đời để khỏi bỡ ngỡ. Luyện tập được tính dũng cảm, bình tĩnh thì lúc gặp nguy nan vẫn sáng suốt.
- Đức nhân từ: Là tình thương rộng lượng, nhân ái, là đức tính cao cả nhất của người võ sĩ. Nếu như tính ngay thẳng ,công bằng và dũng cảm là những đức tính nam nhi thì lòng nhân từ có cái mềm mại làm nên sức mạnh nữ giới. Nhưng cái nhân từ của người võ sĩ cũng không giống như đức nhân từ của người phụ nữ."Nếu ngay thẳng quá đáng thì trở thành thô bạo, nếu nhân từ quá mức sẽ trở nên nhu nhược''.Vì vậy những người dũng cảm nhất là những người dịu dàng nhất, và những người giàu tình thương chính là những người dám chiến đấu dũng cảm.Cái dịu dàng, lòng nhân hậu của người võ sĩ bao gồm cả hành động vì nghĩa. Người võ sĩ còn biểu lộ đức nhân từ của mình đối với kẻ thù đã ngã ngựa.
- Đức lễ phép: Nếu chỉ giữ lịch sự để khỏi làm mất lòng kẻ khác thì cái lịch sự đó cũng chưa gọi là lễ phép. Lễ phép có nghĩa là làm sao cho người khác thật tình vui vẻ trước những cử chỉ lịch sự của mình. Những cử chỉ lịch sự đó phải thể hiện một cách đúng đắn đức từ bi, bác ái tự đáy lòng mình mà ra. Bạn mình khóc, mình không thể vui cười được. Nếu người khác vui thì không có lý do gì mình lại không vui theo. Nếu nói một cách tuyệt đối thì lễ phép và quan tâm đến người khác là thương người vậy.
- Biết tự kiểm soát mình: Là biết tự kiềm chế, làm cho mình có dũng khí khác thường, làm cho xã hội vui tươi, đời sống có ý vị hơn. Những ai không tự chủ được mình để cho những điều lo lắng bên trong bộc lộ ra ngoài thì không kể là hạng người có dũng khí. Không hề tỏ ra một dấu hiệu vui mừng hay giận dỗi, đó là câu nói cửa miệng của các võ sĩ.
- Chân thực: Nếu không chân thực thì lễ phép chỉ là giả tạo và trò cười. Người võ sĩ phải có đức tính chân thực cao hơn các tầng lớp xã hội khác. Lời nói của người võ sĩ có trọng lượng như một lời hứa chắc chắn không cần văn tự, bởi vì danh dự của người võ sĩ còn cao hơn giá trị của văn tự nhiều.
- Trung thành: Trong đạo võ sĩ, lòng trung thành rất quan trọng trong mối quan hệ chủ tớ ngày xưa.Theo đạo võ sĩ thì quyền lợi giữa gia đình và những người trong gia đình đều đồng nhất, không tách rời nhau. Song giữa gia đình và Thiên Hoàng, nếu phải hy sinh một bên thì người võ sĩ không ngần ngại hy sinh gia đình của mình để phụng sự Thiên Hoàng. Khi người võ sĩ không đồng ý kiến với chủ soái, việc làm trung thành của anh ta là tìm mọi cách để chủ soái thấy được sai lầm của mình.Người võ sĩ có thể kêu gọi lương tâm của chủ soái và bày tỏ lòng trung thành của mình bằng cả sự hy sinh, cả những giọt máu cuối cùng. Cuộc đời được coi như là phương tiện phụng sự chủ soái và lý tưởng cuộc đời có danh dự người võ sĩ.
- Trọng danh dự: Là ý thức mạnh mẽ,sâu sắc về giá trị và thanh danh của người võ sĩ. Danh thơm của người võ sĩ là ''phần bất tử của bản thân, phần còn lại chỉ là một sinh vật". Khi người khác nói xấu mình, đừng trả thù họ mà nên suy ngĩ mình đã làm tròn bổn phận chưa? Phải biết hổ thẹn khi phạm đến điều gì tổn hại đến danh dự. Biết hổ thẹn là một trong những đức tính cần được giáo dục cho tuổi trẻ.
Xã hội Nhật Bản có ba tầng lớp chính là quý tộc, võ sĩ và nông dân, thợ thủ công. Có thể nói cách sống của tầng lớp võ sĩ có ảnh hưởng đến xã hội Nhật trong lối sống nhiều nhất. Quý tộc thì nghiêng về hình thức, nghi lễ, tầng lớp thị dân thì thích những cái gì loè loẹt, hình thức bên ngoài ''xanh xanh đỏ đỏ em nhỏ nó mừng'' còn tầng lớp võ sĩ thì chuộng sự đơn giản nhưng sâu lắng do ảnh hưởng của Thiền, họ luôn tìm thấy cái đẹp trong sự đơn giản khiết bạch. Chính tinh thần thượng võ của giới võ sĩ đã ảnh hưởng đến đời sống nhân dân Nhật Bản nên nhờ vậy mà nước Nhật điêu tàn sau chiến tranh trở nên một nước hùng mạnh nhất nhì thế giới, và cũng nhờ đó mà nước Nhật tiến bộ hơn hầu hết các nước Châu Á khác trước đệ nhị thế chiến. Trong khi các nước Châu Á khác lúc đó đều là thuộc địa của Phương Tây thì Nhật Bản chẳng những thoát khỏi ách đô hộ mà còn đi xâm chiếm nước khác, tất nhiên để xâm chiếm được nước khác thì trước hết mình phải mạnh mới được.
Thực chất đạo võ sĩ là sự kết hợp pha trộn, dung hoà tinh thần thượng võ vốn có của người Nhật với các yếu tố mà họ cho là tích cực từ tín ngưỡng ,tư tưởng du nhập từ bên ngoài vào.
Quá trình rèn luyện và hình thành tính cách một Samurai theo giáo lý đạo võ sĩ được thể hiện khá rõ nét và tiêu biểu ở chân dung nhân vật lịch sử Nogi Maresuke thời chiến tranh Nhật-Nga. Từ thuở lên tám ông đã được gia đình và nhà trường giáo dục một cách nghiêm ngặt để trở thành một Samurai. Thời kỳ này ảnh hưởng của nền văn minh Tây phương rất mạnh mẽ và thanh kiếm không còn là lý tưởng của nhiều thanh niên nữa. Mơ ước của Nogi là trở thành một nhà bác học, song vì là con nhà võ nên ông phải phục tùng mệnh lệnh cha là trở thành một võ sĩ. Ông đã gác gia đình sang một bên, suốt đời là một võ tướng xông pha trận mạc, không ngại hy sinh (dũng cảm). Có những lần công đồn Nga không thành công, danh dự bị tổn thương, ông định mổ bụng để giải bày khí tiết (trọng danh dự). Nhưng theo lệnh của Thiên Hoàng, Nogi không được làm điều đó. Ông vẫn tiếp tục chỉ huy chiến đấu cho đến ngày thắng quân Nga (trung thành). Khi biết các con mình hy sinh ngoài trận mạc, ông vẫn tỏ thái độ bình thản, không để lộ sự xúc động ra ngoài (biết tự kiểm soát). Nhưng dù sao ông cũng chỉ là một con người, hơn nữa lại là người võ sĩ. Trở về doanh trại, ông ngồi khóc than một mình,cảm tác những vần thơ thương nhớ con thắm thiết. Thật đúng là người dũng cảm nhất lại là người giàu tình thương nhất. Nogi được coi là một vị tướng mẫu mực trong quân đội Thiên Hoàng. Khi Nhật Hoàng mất, ông vô cùng xúc động, tự chịu lễ seppuku (mổ bụng) để được theo phục vụ chủ soái của mình đến hơi thở cuối cùng.
Thời Edo đã xảy ra một vụ việc rất nổi tiếng và sau đó trở thành đề tài cho kịch Noh, kabuki và cho đến ngày nay là đề tài cho điện ảnh. Đó là Chushingura, chuyện bốn mươi bảy samurai báo thù cho chủ rồi mổ bụng tập thể. Có thể nói đây là chuyện để lại ấn tượng sâu sắc nhất trong nhân dân Nhật Bản về hình ảnh của người võ sĩ.
Tinh thần thượng võ của người võ sĩ bấy giờ được hướng vào mục đích phục vụ Thiên Hoàng, phục vụ tướng quân và đã biến thành chủ nghĩa anh hùng cá nhân. Người Nhật có câu: "Hana wa sakuragi,hito wa bushi" nghĩa là trăm hoa đẹp nhất có hoa anh đào,con người đẹp nhất là người võ sĩ. Hoa anh đào vừa nở xong thì cũng vưa rụng xuống nhưng hương thơm, nhuỵ đẹp vẫn còn nguyên. Có thể nói hoa anh đào là biểu tượng cho vẻ đẹp thanh cao nhưng mong manh, lung linh rất khó nắm bắt. Người võ sĩ cũng vậy, sống thì bảo toàn danh dự, trung thành với chủ soái, nếu chết thì chọn cái chết anh hùng nơi chiến trận, tiếng thơm còn lưu muôn đời. Người võ sĩ và thanh kiếm đã trở thành hình tượng trong dân chúng thời bấy giờ. Trong kho tàng truyện cổ Nhật Bản có kể câu chuyện một thiếu niên mười sáu tuổi đầu, hào hoa phong nhã, ra trận còn mang theo ống sáo và tập thơ. Giáp mặt với một võ sĩ nổi tiếng của địch, cậu thiếu niên không đáng là đối thủ ngang sức. Người võ sĩ nhanh chóng ghì được đối phương nhưng bất giác trong lòng ái ngại, muốn tha chết cho cậu bé chỉ đáng tuổi con trai mình. Nhưng cậu ta khảng khái nói:
"Không,đó là cái nhục của một võ sĩ. Ta thà vùi thây nơi chiến địa còn hơn thoát chết...'' Thế là bất đắc dĩ người võ sĩ vung kiếm lên để rồi ân hận suốt cuộc đời còn lại.

Journal of Asian Martial Arts

Photobucket