Wednesday, November 17, 2010

Bất Kiến Đổ Phủ



不見  杜甫


不見李生久,
佯狂真可哀!
世人皆欲殺,
吾意獨憐才。
敏捷詩千首,
飄零酒一杯。
匡山 讀書處,
頭白好歸來。

Bất Kiến  - Đổ Phủ
 Bất kiến Lý sinh cửu
Dương cuồng chân khả ai
Thế nhân giai dục sát
Ngô ý độc liên tài
Mẫn tiệp thi thiên thủ
Phiêu linh tửu nhất bôi
Khuông sơn độc thư xứ
Đầu bạch hảo qui lai 



Không gặp bạn


Đã lâu không gặp Lý sinh,
Thương anh giả dại, giã điên, giả khùng...
Người đời muốn bạn mệnh chung, 
Riêng huynh tôi mến thật chân thiên tài.
Thơ hay vung bút nghìn bài, 
Công danh nghiêng chén lai rai kinh thường
Thư phòng xưa ở núi Khương,  
Quay về nhé bạn khi sương mái đầu...

Monday, November 15, 2010

Túc Kiến Đức giang Mạnh Hạo Nhiên

Photobucket

宿建德江 孟浩然



移舟泊煙渚,
日暮客愁新。
野曠天低樹,
江清月近人。

Túc Kiến Đức giang - Mạnh Hạo Nhiên
Di chu bạc yên chử
Nhật mộ khách sầu tân
Dã khoáng thiên đê thụ
Giang thanh nguyệt cận nhân


Đậu thuyền trên sông Kiến-Đức

Ghé thuyền đổ bến khói
Chiều tàn, buồn lên khơi
Đồng xa chân trời với
Sông trong, trăng cạnh người .

Thuyền về bến đổ khói sương,
Tàn chiều thương kẻ viễn phương xa vời .
Đồng cây níu bóng chân trời,
Trăng rơi trên nước ngỡ là bạn thân ...

Những viên kim cương nổi tiếng nhất thế giới

Vẻ đẹp hoàn mỹ của những viên kim cương nổi tiếng như "Lời hứa Lesotho", Cullinan, Wittelsbach… luôn có hấp lực mạnh mẽ đối với con người.

1. Orlov


Orlov là viên kim cương lớn nhất và nổi tiếng nhất trong bộ sưu tập của Quỹ kim cương quốc gia tại điện Kremlin ở thủ đô Mátxcơva. Orlov được tìm thấy tại Ấn Độ vào cuối thế kỷ 17, đầu thế kỷ 18. Ban đầu, viên kim cương trắng pha xanh nhạt này có trọng lượng 400 carat nhưng giảm xuống còn 189,62 carat sau khi được cắt bớt.
Một số nguồn tin nói rằng Bá tước Grigory Orlov đã mua viên đá quý tại Amsterdam từ một thương gia Armenia (hoặc Ba Tư) để tặng cho Hoàng hậu Nga Catherine II vào ngày sinh nhật. Nhưng những người khác lại nói chính Catherine đã mua viên kim cương bằng ngân sách quốc gia. Để tránh bị chỉ trích, bà đã dựng lên câu chuyện về bá bước Grigory Orlov và đặt tên cho viên đá quý là Orlov.
2. Shah

Shah cũng là một viên kim cương khác nổi tiếng nhất trong bộ sưu tập của Quỹ kim cương của điện Kremlin. Nó nặng 88,7 carat, màu vàng nhạt. Shah có nguồn gốc từ Ấn Độ. Người ta kể rằng viên đá quý được tìm thấy tại các mỏ Golconda ở Ấn Độ vào thế kỷ 16, trước khi những mỏ này bị bỏ không.
Tương truyền, vào năm 1829, nhà ngoại giao và cũng là nhà thơ Nga Alexander Griboyedov bị sát hại tại Ba Tư. Vua Ba Tư đã phái cháu trai tới St Petersburg để tặng quà cho Nga hoàng Nicholas I để tránh một cuộc khủng hoảng ngoại giao. Viên kim cương Shah – vật quý giá trị nhất của các vị vua Ba Tư – đã được đem tặng.
3. Black Orlov

Nguồn gốc của viên kim cương Black Orlov, cũng như màu xám khác thường của nó, cho tới nay vẫn là điều bí ẩn. Tương truyền, viên kim cương – còn có tên gọi khác là “Con mắt của Brahma” – được đặt trên bức tượng tại một điện thờ gần Pondicherry ở miền nam Ấn Độ và nặng 195 carat khi chưa cắt.
Người ta kể rằng Black Orlov đã gây ra vụ tử tự của 2 công chúa Nga. Cũng theo truyền thuyết, viên kim cương từng thuộc sở hữu của Công chúa Nadia Orlova mặc dù lịch sử đã bác bỏ điều này vì không có công chúa Nga nào tên như vậy. Black Orlov hiện nay nặng 67,50 carat và được trưng bày tại các bảo tàng trên khắp thế giới.
4. Cullinan

Viên kim cương Cullinan (hay còn có tên gọi là “Ngôi sao của châu Phi”) là viên kim cương thô lớn nhất từng được phát hiện. Nó nặng 3.026 carat (một số nguồn tin cho biết Cullinan nặng 3.106 carat) và được phát hiện năm 1905 tại Transvaal, Nam Phi.
Chính phủ Transvaal đã tặng viên kim cương cho nhà vua Edward VII của Anh nhân dịp sinh nhật ông. Edward VII đã giao cho thợ kim hoàn nổi tiếng nhất London Joseph Asscher cắt Cullinan. Viên đã quý sau đó được cắt thành 2 viên lớn Cullinan I và Cullinan II, 7 viên kích cỡ tương đối và 96 viên nhỏ. Cullinan I và Cullinan II hiện nằm trong bộ sưu tập đá quý của hoàng gia Anh.
5. Koh-i-Noor

Koh-i-Noor (Núi ánh sáng), nặng 105 carat, hiện được gắn trên vương niện Nữ hoàng Anh. Viên kim cương có xuất xứ từ mỏ Kollur, quận Guntur ở bang Andhra Pradesh, Ấn Độ. Ban đầu nó có màu vàng nhạt nhưng sau đó trở thành màu trắng trong sau khi được cắt lại năm 1852.
6. Annenberg

Annenberg là một trong những viên kim cương nổi tiếng nhất thế giới. Viên đá quý hoàn mỹ nặng 32 carat. Hồi tháng 10/2009, viên kim cương đã được bán với giá 7,7 triệu USD trong một cuộc đấu giá ở New York, Mỹ.
7. Wittelsbach

Wittelsbach, ban dầu nặng 35,56 carat, được tìm thấy tại mỏ Kollur của Ấn Độ. Tương truyền rằng Vua Philip IV của Tây Ban Nha đã mua viên kim cương xanh này vào năm 1664 và dùng nó làm của hồi môn khi con gái khi công chúa Margarita Teresa kết hôn với Vua Leopold I của Áo.
Mặc dù Teresa mất tương đối sớm nhưng chồng bà vẫn giữ viên kim cương và chuyển giao nó cho nhiều người thừa kế liên tiếp. Viên kim cương mang tên Wittelsbach kể từ năm 1722 khi cháu gái của vua Leopold kết hôn với một thành viên của gia đình Wittelsbach, triều đại hoàng gia ở Đức và được hoàng gia Đức lưu giữ từ đời này sang đời khác.
Năm 2008, thợ kim hoàn nổi tiếng người Anh Laurence Graff đã mua Wittelsbach với giá kỷ lục 24,3 triệu USD trong phiên đấu giá ở London. Ông Graff sau đó đã cắt lại viên đá quý và hiện nay Wittelsbach nặng 31,06 carat.
8. Hy vọng

Viên kim cương mang tên Hy vọng nặng 45,52 carat được cho là viên kim cương không may mắn nhất thế giới. Viên đá quý từng thuộc gia đình hoàng gia Ấn Độ và bị đánh cắp khỏi đầu một tượng thần Ấn Độ. Tương truyền rằng viên kim cương này hường gây tai hoạ cho những ai sở hữu.
Vào khoảng năm 1830, Huân tước Henry Philipp Hope ở Anh đã mua nó với giá rất cao và nó mang tên Hope kể từ đó. Nhưng bí ẩn là cả dòng họ Hope đều chết bi thảm. Những người sở hữu sau đó cũng chịu số phận tương tự. Gia đình sở hữu cuối cùng đã tặng viên kim cương cho Viện Smithsonia ở Washington, Mỹ, nơi nó được trưng bày ngày nay.
9. “Lời hứa Lesotho”

“Lời hứa Lesotho”, được phát hiện tại mỏ ở Nam Phi năm 1967, là viên kim cương lớn thứ 10 trên thế giới. Năm 2006, viên kim cương được bán với giá 12 triệu USD tại Antwerp, Bỉ. Sau khi được cắt, giá của viên kim cương đã tăng gấp đôi. Tập đoàn kim cương Nam Phi hiện sở hữu viên đá quý này. Công ty cho biết sẽ đem bán viên kim cương đã được cắt gọt trong tương lai.
10. Bộ đôi kim cương vàng

Hai viên kim cương lớn màu vàng – một viên hình tròn nặng 102,54 carat và một viên hình trái lê nặng 82,48 carat – thuộc bộ sưu tập trang sức của Marquise de Paiva, một gái điếm hạng sang thế kỷ 19 vốn đam mê kim cương. Paiva sinh ra trong một gia đình Do thái nghèo ở Mátxcơva nhưng tự nhận là con hoang của đại công tước Constantine Pavlovich Romanov. Năm 2007, những người thừa kế của Paiva đã mang bán đấu giá 2 viên kim cương.

Những tàn tích dưới đáy biển phía Nam Nhật Bản Yonaguni Jima

Những tàn tích dưới đáy biển này không chỉ có ở Nhật Bản, mà là ở khắp các đại dương trên toàn thế giới. Vậy thực sự trên Trái Đất đã từng tồn tại một nền văn minh rất lớn và đã bị diệt vong bởi một trận đại hồng thuỷ như trong các câu chuyện cổ xưa? Câu trả lời xin dành cho cho độc giả tự phán xét.

This image has been resized. Click this bar to view the full image. The original image is sized 760x344 and weights 29KB.

Toàn cảnh kiến trúc kim tự tháp Yonaguni

Vào năm 1985, Kihachiro Aratake, một thợ lặn người Nhật trong khi đang làm việc dưới vùng biển gần một hòn đảo nhỏ phía Nam Nhật Bản, tên là đảo Yonaguni Jima (gần Đài Loan) đã tình cờ phát hiện một kiến trúc đá cổ đồ sộ. Điều đặc biệt là nó có dạng bậc thang của các kim tự tháp với những góc cạnh tinh tế. Khu đá dài đến 100m và có những đường hầm sâu hơn 2m.

Giáo sư tiến sỹ Masaaki Kimura (sinh ngày 6/11/1940, tại Yokohama, Nhật Bản) là giáo sư danh dự của khoa Khoa học Trường Đại học Ryūkyūs, Okinawa, Nhật Bản. Ông tốt nghiệp tại Khoa Thủy sản của Trường Đại học Tokyo vào năm 1963, rồi đạt học vị tiến sĩ về địa chất biển vào năm 1968. Ông đã từng làm việc cho Viện nghiên cứu Hải dương học thuộc trường Đại học Tokyo, Viện khảo sát địa chất Nhật Bản, Cơ quan Khoa học và Công nghệ thuộc Bộ Thương mại và Công nghiệp Quốc tế Nhật Bản, và Đài quan sát thiên văn Trái Đất Lamont-Doherty thuộc trường Đại học Columbia. Ông giảng dạy tại trường Đại học Ryukus từ năm 1977 tới năm 2002. Ông hiện giờ là tổng giám đốc của Hội nghiên cứu Di sản Văn hóa và Khoa học Đại dương.
Năm 1996, ông đã tiến hành khảo sát khu vực này. Sau nhiều năm nghiên cứu sự hình thành của khu tàn tích này, ông đã đi tới kết luận đáng kinh ngạc rằng: đây là dấu tích của một nền văn minh cao cấp cổ xưa, là một thành phố cổ bị động đất đánh chìm khoảng 12.000 năm trước.
Giáo sư Kimura cũng cho biết, ban đầu ông nghĩ rằng các cấu trúc này là tự nhiên. Nhưng ông đã thay đổi quan điểm sau lần đầu tiên lặn xuống quan sát. Ông đã tìm thấy những dấu vết mài xẻ trên đá, các ký tự trên những phiến đá và các mẩu đá được mài đẽo hình các loài động vật.
Ngoài những phát hiện ở phía Nam đảo Yonaguni, các khám phá quan trọng đã được thực hiện ở phía Tây của hòn đảo này. Năm 1990, các thợ lặn đã tìm thấy một kim tự tháp khổng lồ được xây dựng từ các khối đá. Kim tự tháp này rộng 183m, và cao 27,43m. Nó được xây dựng từ các phiến đá hình chữ nhật, và có 5 lớp. Cũng có một số nhỏ các công trình xây dựng gần đó tương tự như kim tự tháp. Những kim tự tháp nhỏ này bao gồm các lớp đá, có chiều rộng khoảng 10m và chiều cao khoảng 2m. Các thợ lặn còn phát hiện cái trông như là một con đường chạy xung quanh công trình chính. Sau đó, họ còn phát hiện ra những con đường dài, những đại lộ lớn, những cấu trúc cầu thang lớn, những cấu trúc cổng tò vò, các khối đá khổng lồ được đẽo gọt chính xác và tỉ mỉ, tất cả hài hòa trong một chỉnh thể kiến trúc đồng nhất mà họ chưa từng thấy bao giờ. Chúng rõ ràng là phần còn lại tương đối nguyên vẹn của một thành phố tiền sử.

Hệ thống chữ tượng hình được tìm thấy tại khu tàn tích Yonaguni

Nhiều di tích khác cũng đã được phát hiện, gồm một công trình làm bằng đá, một cấu trúc giống như hang động được bao quanh bởi những chiếc cột, một bức tượng đầu người, một cấu trúc vòm, và những bức tượng hình rùa. Những đường nét trên bức tượng mặt người vẫn còn rất rõ ràng, rất giống với những đầu người bằng đá khác ở Peru. Sau đó, ở gần bức tượng đầu người khổng lồ, các nhóm chữ tượng hình đã được tìm thấy. Điều này chỉ ra rằng những người xây dựng các tàn tích dưới đáy biển này thuộc về một nền văn minh rất tiến bộ.
Điều đáng chú ý là xung quanh khu vực kiến trúc này không có dấu tích của đá vôi, nghĩa là trước đây công trình này nằm cao hơn mặt nước biển. Mặt trên của kiến trúc có một khối đá lớn tương tự như Đá Mặt Trời ở Nam Mỹ, khiến chúng ta không thể không nghĩ rằng đây có lẽ là một công trình thiên văn.
Đoàn thám hiểm Team Atlantis đã lặn xuống quay bộ phim tài liệu về công trình này khẳng định đây là một công trình nhân tạo. Không có bằng chứng nào cho thấy những cư dân của nền văn hóa Nhật Bản cổ đại có thể xây dựng được chúng. Nói cách khác, những ai đó thuộc về những thời kỳ tiền sử xa xôi đã xây dựng nó, trước khi một biến cố địa chất nào đó đã làm cho cả một mảng khối lục địa to lớn chìm xuống, kéo theo cả công trình dang dở vĩ đại này. Các giám định niên đại cho thấy cấu trúc này có thể ra đời vào khoảng 8.000 đến 10.000 năm trước công nguyên. Đến nay, sau 25 năm khám phá ra công trình này, chúng ta vẫn chưa nghiên cứu ra được nền văn minh nào là những người đã xây dựng nó.

Xưa kia khu vực di tích Yonaguni nằm trên mực nước biển, khi băng hà chưa tan chảy làm nước biển dâng lên. Thời kỳ Băng tan và và mực nước biển bắt đầu dâng lên vào khoảng 10.000 -12.000 năm trước. Hiện nay Yonaguni nằm dưới mực nước biển, vì vậy các nhà khoa học cho rằng kim tự tháp Yonaguni có ít nhất 10.000 năm tuổi.


Những bậc cầu thang cao tới 1m

Hơn nữa, có những dấu tích còn lại của những con phố xung quanh kim tự tháp. Các thợ lặn thuộc khoa địa chất học thuộc trường Đại học Boston Hoa Kỳ nhận thấy rằng các cầu thang khổng lồ đã được xây dựng từ một loạt các lớp đá cao 1m, giống như bậc thang kim tự tháp. Các nhà khảo cổ học tại Trường Đại học London tin rằng những người xây dựng nên công trình này có trình độ còn vượt trên các nền văn minh Lưỡng Hà và sông Ấn.

Những dấu cắt trên đá như thế này được tìm thấy ở khắp mọi nơi trong thế giới cổ xưa. Trái sang phải, trên xuống dưới: Dấu cắt đá tại Yonaguni, tại Machu Pichu, Carnac (Pháp), Castleruddery (Ireland), tại Giza (Ai Cập). Phải chăng chúng là tàn tích của một nền văn minh toàn cầu đã một thời phát triển rộng khắp?
Nếu công trình này là nhân tạo, thì ai đã tạo ra nó? Chúng ta không hề có một tư liệu lịch sử nào đề cập đến một nền văn minh giữa biển Thái Bình Dương cả. Có nghĩa là: nó rất cổ xưa, vượt xa giới hạn hiểu biết của lịch sử chúng ta.
Công trình này tại sao lại bị chìm dưới nước, phải chăng nó đã xuất hiện từ thời kỳ băng hà, để rồi bị nhấn chìm xuống đáy đại dương bởi băng tan, cách nay ít nhất là 10.000 năm? Những năm gần đây, ngày càng có nhiều cấu trúc dạng kim tự tháp được tìm thấy ở Ai Cập, Peru, Châu Á, và mới đây là ở châu Âu. Những tàn tích dưới đáy biển này không chỉ có ở Nhật Bản, mà là ở khắp các đại dương và lục địa trên toàn thế giới. Vậy thực sự trên Trái Đất đã từng tồn tại một nền văn minh rất lớn và đã bị diệt vong bởi một trận đại hồng thủy như trong các câu chuyện cổ xưa? Câu trả lời xin dành cho cho độc giả tự phán xét.
Chùm ảnh thêm về khu di tích Yonaguni



Những bí ẩn phía sau tờ 1 USD







Giống như những tờ bạc khác, tờ 1 USD được làm từ một hỗn hợp vải lanh và cotton. Đây là lý do tại sao chúng không bị rách khi dính nước giống như những tờ giấy ở một số nước khác. Nếu nhìn kỹ, chúng ta sẽ thấy những sợi tơ màu đỏ và màu xanh nước biển được đan khắp tờ bạc nhằm ngăn chặn các nỗ lực làm giả.

Dù là tờ tiền giấy có mệnh giá thấp nhất của Mỹ nhưng phía sau tờ 1 USD ẩn chứa rất nhiều điều thú vị.

Giống như những tờ bạc khác, tờ 1 USD được làm từ một hỗn hợp vải lanh và cotton. Đây là lý do tại sao chúng không bị rách khi dính nước giống như những tờ giấy ở một số nước khác. Nếu nhìn kỹ, chúng ta sẽ thấy những sợi tơ màu đỏ và màu xanh nước biển được đan khắp tờ bạc nhằm ngăn chặn các nỗ lực làm giả.




Tuy nhiên, bí ẩn của tờ tiền “nhỏ bé” này là ở hai chữ cái đầu và cuối dãy số series. Chữ cái đầu tiên phải trùng với chữ cái lớn được in đậm phía bên trái mặt tiền, thể hiện nơi nó được phát hành. Chữ A = Boston, B = New York City, C = Philadelphia, D = Cleveland, E = Richmond, Va., F = Atlanta, G = Chicago, H = St. Louis, I = Minneapolis, J = Kansas City, K = Dallas. Giả sử tờ 1 USD có dãy số F73541079N có nghĩa là tờ tiền này được phát hành ở ngân hàng dự trữ liên bang tại bang Atlanta (chữ F), chữ N ở cuối là số lần được in – tương ứng số thứ tự trong bảng chữ cái là 14, với mỗi lần in là 32 tờ có cùng dãy số.

Ở phía sau tờ bạc này còn ẩn chứa nhiều bí mật ở hai vòng tròn. Cả hai vòng tròn này đều là quốc ấn của Mỹ. Ở vòng tròn bên trái là một kim tự tháp. Nếu để ý chúng ta sẽ thấy nó phát sáng trên đỉnh và cạnh phía Tây bị khuất bóng tối. Ý nghĩa của biểu tượng này là nước Mỹ muốn triển nền văn minh phương Tây (khi đó Mỹ mới giành độc lập). Kim tự tháp bị cắt đầu nghĩa là công trình của chưa kết thúc, Washington sẽ tiếp tục hoàn thiện.




Cụ thể hơn, bên trong đỉnh chóp nhỏ là một con mắt tỏa sáng tứ phương. Đó là biểu tượng cho thần linh vào thời cổ đại, tượng trưng cho trí thông minh. Phía trên kim tự tháp là dòng chữ la tinh: ANNUIT COEPTIS, có nghĩa: Thượng đế chúc phúc cho công việc của chúng ta. Phía dưới in dòng chữ NOVUS ORDO SECLORUM - một trật tự mới bắt đầu. Ngay dưới chân kim tự tháp là con số La Mã MDCCLXXVI. M là 1.000, D là 500, CC là 200, L là 50, XX là 20, VI là 6. Đặt các số này lại với nhau và chúng ta có năm 1776, là thời điểm nước Mỹ ra đời.




Ở bên đối diện, vòng tròn bên phải có nhiều chi tiết giống với ấn tín của nước Mỹ - con đại bàng đầu trọc, biểu tượng của chiến thắng. Thứ nhất, nó không sợ bão tố vì đủ sức mạnh và trí thông minh để vượt qua bão tố. Thứ 2, nó không đội vương miện vì nước Mỹ lúc đó vừa đập tan quyền lực của Vua nước Anh George III. Vì vậy, cái lá chắn trước ngực con đại bàng không có dây đeo. Điều đó có nghĩa là quốc gia này từ đây hoàn toàn tự lập. Phía trên lá chắn có một loạt vạch trắng song song: Chúng tôi liên kết với nhau thành một quốc gia. Trước mỏ đại bàng có dòng chữ vắt ngang: E PLURIBUS UNUM, nghĩa là: một quốc gia quy tụ nhiều chủng tộc. Trên đầu đại bàng là 13 ngôi sao 5 cánh tượng trưng cho 13 tiểu bang mới ra đời. Những ngôi sao 5 cánh được sắp xếp theo hình dạng của một ngôi sao 6 cánh. Ngôi sao 6 cánh là biểu tượng của những kẻ thờ quỷ Satan. Đó cũng chính là hình có 6 điểm, 6 góc, 6 mặt phẳng (66), dấu hiệu của những kẻ chống Chúa.
Ngoài ra, con đại bàng đang quắp một cành ôliu và một bó tên. Nó quay mặt về cành ôliu nhưng mắt vẫn liếc về phía còn lại với ý nghĩa: Đất nước này yêu chuộng hòa bình nhưng không ngần ngại dùng vũ lực để bảo vệ hòa bình.

MỚI


Con đường mới hôm nay rất đẹp

Nắng gọi mời những bước chân xa

Và hơi thở ai về trên bến lạ

Cho vui mừng rộn rã ngát hương hoa

*

Mái nhà nhỏ vươn mình hôn sương sớm

Cửa nhà ai đèn thắp lửa ân tình

cánh thiệp nhỏ vô cùng ấm áp

Tôi lữ hành khát vọng cánh môi xinh

*

Bến cảng hẹn trường ca viễn xứ

Mây phiêu du vẫn nghẹn nấc thời gian

Áo du tử vẫn thấm nồng khói nắng

Mắt em hoài ẩn dấu quan san

*

Ly trà sánh hồn phương đông bỏ ngỏ

Khung trời vuông hay trọn vẹn hồi âm

Thời khắc bỗng ngừng điệp khúc

Phong trần trên trang giấy thâm tâm

*

Quả thực chín - trái tròn thời điểm

Hội nhân gian hát dân chủ bừng lên

Em bé nói lời trong như ngọc

Mẹ già mừng nay hết buổi cung tên.

Con trâu trong các giai thoại nổi tiếng

Đó là những con trâu gắn liền với những câu chuyện thú vị tản mạn trong các giai thoại nổi tiếng, về các phương diện lịch sử, triết học, truyền thuyết, được nhắc đến nhiều trong kho tàng văn học Đông phương



Con trâu vô địch
Trong truyện Tây Du Ký có kể đến hồi con trâu Độc Giác Tỉ do Thái Thượng Lão Quân nuôi sổng chuồng xuống trần làm yêu quái và bắt mất nhà sư Tam Tạng. Tề Thiên Đại Thánh đánh không lại con yêu trâu một sừng này, vì nó lấy được chiếc vòng càn khôn của Lão Quân. Chiếc vòng này có khả năng thâu tóm hết mọi thứ vũ khí, bửu bối của chư thần. Tôn Ngộ Không đã lần lượt thỉnh các vị thần như hai Lôi Công (thần sấm), Thác tháp Thiên Vương Lý Tịnh, Na Tra, Hỏa Đức Tinh Quân v.v... tất cả đều vô phương, thúc thủ. Cuối cùng họ Tôn phải sử dụng đến chiêu “rút cán búa” trong tam thập lục kế, nghĩa là đi điều tra nguồn gốc con yêu và mời ngay người chủ của nó xuống thu phục, đó là chính Thái Thượng Lão Quân hạ trần bắt quái.

Con trâu có máu “lăng nhăng”
Con trâu có tính “hảo ngọt”, ngoài vợ lớn còn ưa lập thêm “phòng nhì” đó là Ngưu Ma Vương, cũng trong Tây Du Ký. Ngưu Ma Vương bỏ bà vợ lớn là Thiết Phiến công chúa (có lẽ vì bà này dữ dằn quá chăng, ngoại hiệu của bà ta là Bà La Sát) đi xây tổ uyên ương với Ngọc Diện công chúa (vốn là một con bạch diện hồ ly). Nếu không có nhóm thầy trò Đường Tăng đi thỉnh kinh ngang qua, cầu chiếc quạt Ba Tiêu để quạt tắt ngọn Hỏa Diệm Sơn và khuấy tung gia cảnh nhà họ Ngưu thì có lẽ Ngưu Ma Vương vẫn còn bỏ nhà đi ở với vợ bé dài dài.

Con trâu âm binh
Đó là con trâu lính của Diêm Vương, tức Ngưu Đầu Mã Diện (đầu trâu mặt ngựa). Hai chú lính cõi âm này có nhiệm vụ chuyên đi áp giải những linh hồn (thường là những hồn xấu) xuống cho Diêm Vương xử đoán. Truyện Bao Công xử án Quách Hòe còn ghi lại cảnh ông Bao Thanh Thiên tra xét mãi, không lấy được lời khai của Quách công công, bèn làm kế giả cho họ Quách bị chết xuống âm phủ, gặp Ngưu Đầu Mã Diện điệu tới trước Diêm Vương. Quách Hòe ngỡ mình đã chết thật, bèn thú nhận hết tội lỗi.

Con trâu “robot” thời Tam Quốc
Độc đáo ở chỗ đó là những con robot được chế tạo bằng gỗ của Gia Cát Khổng Minh. Trong sáu lần đem quân đi đánh nước Ngụy (lục xuất kỳ sơn), có những lần việc chuyển vận lương thảo ra mặt trận gặp khó khăn. Khổng Minh đã phải chế ra những con trâu gỗ ngựa máy để tải lương. Khi tướng Ngụy Tư Mã Ý biết được đã cho bắt vài con trâu gỗ đem về bắt chước chế ra nhiều bản sao cũng để dùng vào việc tải lương cho quân Ngụy, nhưng phía Ngụy chưa vui mừng được lâu thì đã bị Khổng Minh bày kế làm cho các chú trâu ngựa này không nhúc nhích được và đoạt về cả lương thảo lẫn đám trâu ngựa “học nhái” của họ Tư Mã.

Con trâu hiền triết
Theo Chuyện giải buồn của Huỳnh Tịnh Của, vào đời vua Nghiêu, Trung Quốc, vua Nghiêu nghe tiếng Hứa Do là người hiền, bèn vời đến để truyền ngôi cho. Hứa Do từ chối, cười mà về rồi ra suối rửa tai. Khi đó, có Sào Phủ dắt trâu ra suối uống nước, thấy Hứa Do rửa tai bèn hỏi tại sao. Hứa Do đáp: “Ông Nghiêu đòi tôi, bảo tôi làm vua”. Nghe vậy, Sào Phủ dắt trâu lên phía trên dòng nước cho uống.
Hứa Do hỏi tại sao, Sào Phủ đáp: “Anh rửa tai xuống đó, tôi sợ trâu của tôi uống nhằm. Anh đi đâu cho người ta biết mà vua muốn nhường ngôi cho anh, ấy là tại bụng anh vẫn còn danh lợi”.
Huỳnh Tịnh Của phê rằng: “Nghe mà rửa, chi bằng giữ vẹn đừng nghe”. Câu chuyện này là một điển cố, tiêu biểu cho lòng trong sạch và tính ẩn dật của các ẩn sĩ ngày xưa.

Con trâu lửa
Thời Chiến Quốc, vua nước Tề là Tề Mân Vương nhân lúc nước Yên có loạn thần Tử Chi bèn mượn tiếng trừ gian diệt bạo, cất quân sang chinh phạt, định diệt luôn nước Yên. Tuy Yên chưa bị thôn tính nhưng bị tàn phá nặng nề. Năm 285 trước Công nguyên, Yên Chiêu Vương phục quốc và nuôi chí phục thù nước Tề. Vua Yên chiêu mộ được Nhạc Nghị, dùng làm đại tướng, liên minh với các nước Tần, Triệu, Ngụy, Hàn cùng đem quân đánh Tề. Mân Vương quá bạo ngược, mất lòng dân nên nước Tề bị thua to. Vua Tề bị giết chết dã man. Liên quân năm nước bình định gần hết nước Tề. Chỉ còn lại hai thành là Cử và Tức Mặc vẫn cố thủ. Tướng giữ thành biết Điền Đan là tôn thất nước Tề, vốn là người coi chợ ở Lâm Tri nhưng có tài làm tướng. Nhân dịp con của Mân Vương là công tử Pháp Chương được dân Tề đón về lên ngôi vua kế vị ở thành Cử, tức là Tề Tương Vương, quần thần tiến cử Điền Đan, Tương Vương dùng làm tướng. Về phía nước Yên, Yên Chiêu Vương vừa chết, con là Yên Huệ Vương lên ngôi. Huệ Vương vốn không ưa Nhạc Nghị. Biết tin đó, Điền Đan tung phản gián rằng Nhạc Nghị muốn làm vua nước Tề. Vua Yên bèn bãi chức Nghị, cho Kỵ Kiếp thay thế ở đất Tề. Sau một số chiến thuật kích thích lòng căm thù của tướng sĩ nước Tề, cuối cùng Điền Đan đã dùng “trận trâu lửa” đánh đòn quyết định. Ông sai thu vàng bạc trong thành cho sứ sang dâng cho quân Yên và giao ước với Kỵ Kiếp sẽ đầu hàng khiến quân Yên mừng rỡ, không lo phòng bị. Điền Đan tập trung số trâu trong thành được khoảng 1.000 con, lấy vải quấn lên mình trâu, vẽ hình sặc sỡ rồng rắn ngũ sắc, buộc đao nhọn vào sừng, buộc lau bôi mỡ vào đuôi để đốt. Ông cho đục mấy chục hang nhỏ ở quanh thành. Đêm đến cho đốt lửa ở đuôi trâu và xua chúng chạy ra kèm theo 5.000 quân tấn công. Trống đánh, phèng khua ầm ĩ khiến quân Yên đang đêm ngỡ là thần binh xuống giúp quân Tề, không còn chút ý chí chiến đấu. Trận ấy quân Yên thua to.
Điền Đan dẫn quân đánh đến đâu, các thành Tề bị Yên chiếm đều nổi dậy thu phục lại. Cuối cùng hơn 70 thành nước Tề đều lấy lại được. Đan đón vua Tề trở về kinh đô Lâm Tri. Tương Vương phong Điền Đan làm An Bình Quân.




Con trâu vàng
Theo Lĩnh Nam Chích Quái, ngày xưa vào thời thượng cổ có Vương Chất đi đốn củi trong núi, gặp tiên cho hạt táo. Chất ăn cho khỏi đói. Tiên đồng lại bảo: “Cán rìu ngươi nát rồi”. Chất cúi xuống, ngẩng lên thì không thấy tiên đồng đâu nữa. Khi về đến nhà không còn gặp những người thân cũ ở trần gian. Do tích này, ngọn núi được đặt tên là núi Tiên Du hay núi Lạn Kha (núi rìu nát). Tục truyền núi Tiên Du có tinh trâu vàng, nửa đêm thường tỏa ánh sáng. Có nhà sư lấy tích trượng yểm vào trán trâu, trâu vàng bỏ chạy húc vào đất làm sụp thành cái hồ, gọi là vũng Trâu Đằm. Trâu lại chạy ra sông Tô Lịch, chính là Tây Hồ ngày nay. Trên đường trâu chạy, khắp nơi biến thành khe, ngòi, rạch, lãnh.
Ngoài ra, còn có tích trâu vàng ở Hồ Tây. Theo truyền thuyết, vào đời nhà Lý (thế kỷ 13) ở thành Đại La (tức Hà Nội ngày nay) có nhà sư Không Lộ pháp thuật cao cường. Thời ấy nước ta bị thiếu đồng và sắt do bao nhiêu vàng bạc đều bị người đô hộ phương Bắc đem cả về Tàu. Sư Không Lộ bèn sang Trung Hoa, yết kiến vua Tống xin quyên góp một ít kim khí chỉ đựng trong một chiếc túi nhỏ đem về đúc tượng Phật. Thấy túi vải nhỏ, vua đồng ý. Nhà sư vào kho thấy trong số các kim khí có một con trâu khổng lồ đúc bằng vàng ròng đứng canh giữ kho tàng, ông dùng phép thần thông thu quá nửa số đồng đen trong kho vua Tống. Quan coi kho hốt hoảng ra lệnh bắt nhà sư phải trả lại số đồng đen quý giá. Không Lộ nói rằng ông đã thỏa thuận chỉ lấy trong phạm vi chiếc túi nhỏ. Nhà sư dùng phép phi hành đi về nước Nam. Quân Tống cưỡi ngựa đuổi theo. Gặp dòng sông rộng chắn ngang, Không Lộ thả chiếc nón xuống biến thành chiếc ghe vượt sông đi thoát. Về nước, ông dạy cho các thợ rèn đúc một cái chuông bằng đồng đen lấy được ở Trung Hoa về. Khi khánh thành, tiếng chuông ngân xa khiến cho con trâu vàng bên Tàu nghe như tiếng trâu mẹ gọi, liền phóng về phương nam. Không Lộ sợ bao nhiêu vàng ở Trung Hoa theo trâu chạy qua đất Việt sẽ gây can qua giữa hai nước, ông bèn lăn chuông xuống Hồ Tây. Con trâu vàng cũng nhảy xuống nước biến mất. Sau đó, sư Không Lộ về trời. Vua Lý ban sắc tặng sư Không Lộ là thần thợ đúc.

Đấu giá tranh của vua Hàm Nghi

Vào lúc 14h15 ngày 24/11/2010, giờ Paris, tại khách sạn Drouot (9 rue Drouot 75009 Paris, M Richelieu Drouot), tác phẩm Chiều tà (Déclin du jour, 35x46cm, sơn dầu, 1915), mã số 41, của vua Hàm Nghi (1871 - 1944) sẽ được đưa ra đấu giá, với mức khởi điểm từ 800 đến 1.200 euro.



Hàm Nghi và các tượng điêu khắc bằng thạch cao

1. Tác phẩm này đã được trưng bày tại số 5 Avenue d’Eylau, Paris 16e kể từ ngày 8/11; vào ngày 23/11, tác phẩm sẽ được dời về trưng bày ở nơi đấu giá. Theo giới nghiên cứu mỹ thuật tại Pháp, thì đây là lần đầu tiên một tác phẩm của vua Hàm Nghi lên sàn đấu, nên mức giá còn khá thấp là điều dễ hiểu. Người ra giá là văn phòng SVV Millon & Associés.

Cũng xin nói thêm, vua Hàm Nghi được nhà nghiên cứu người Nga là N.L.Nikulin nhận định là một trong những họa sĩ đầu tiên của Việt Nam vẽ tranh sơn dầu theo kỹ thuật phối cảnh của châu Âu. Không chỉ vẽ tranh mà ông còn làm điêu khắc, những năm cuối đời, khi sống tại Alger (Algérie), ông hoạt động mỹ thuật một cách chuyên nghiệp. Triển lãm tranh - tượng lần đầu tiên và hình như duy nhất của ông diễn ra tại Paris tháng 11/1926 tại phòng tranh Mantelet (rue de la Boétie, Paris 8).

Theo nhà văn Nguyễn Ngọc Giao, hiện chưa rõ tác phẩm hội họa và điêu khắc của ông thuộc sưu tập của ai, ngoài gia đình ba người cháu ngoại (con của công chúa Như Lý và chồng là bá tước Francois Barthomivat de La Besse).



Tác phẩm Chiều tà sẽ đấu giá vào 24/11 tới đây


2. Theo chính sử, vua Hàm Nghi sinh ngày 3/8/1871 mất ngày 4/1/1943. Ngày 17/8/1884 ông lên nối ngôi lúc đó mới 14 tuổi. Sau cuộc phản công ở Kinh thành Huế thất bại, Tôn Thất Thuyết đưa vua ra Tân Sở, làm Hịch Cần Vương kêu gọi mọi người nổi lên chống Pháp. Ngày 30/10/1888, vua bị bắt và bị Pháp đưa đi an trí tại Algérie. Tại nơi lưu đày này, ông sống ở biệt thự Gia Long bên trên khu đồi El Biar cách thủ đô Alger 12 cây số. Trong biệt thự có nhiều miếu thờ tổ tiên. Tại nơi tha hương ông vẫn giữ phong tục của Việt Nam từ cách ăn mặc cho đến những nghi thức khác. Ông còn theo học nhạc và có nhiều tác phẩm hội họa. Ngài sống tại đây cho đến lúc mất. Ông có lấy vợ người Pháp là con gái của viên chức Trương Chánh Lalauer sinh được 1 con trai và hai con gái.


Văn Bảy

Toa thuốc Phật Môn

 1) Tri Kiến Tuyết Liên: Có những tục lụy phải được chấm dứt bằng cái nhìn quán chiếu như thật. Sự hiện hữu của muôn loài chỉ là sự kết nối của năm uẩn vốn vô thường, khổ, không. Không hề có một con sông hay biển cả nào trong những giọt nước.

    2) Hộ Căn Kỳ Sâm: Có những tục lụy phải được giải quyết từ sự phong bế các đại huyệt mà Phật gia gọi là Lục Căn không để bát phong thần chưởng của nhân gian xô động. Phòng cháy luôn tốt hơn chữa cháy.

    3) Thọ Dụng Sâm Thương Thảo: Có khi tục lụy được giải quyết bằng sự sử dụng khôn ngoan vài thứ vật chất nhu yếu như thêm dầu vào đèn, tưới nước vào cây. Đời tu không sao phủ nhận triệt để mọi tiếp liệu, nhưng phải luôn ở mức Cần và Đủ.

    4) Kham Độc Thần Sa: Đôi lúc tục lụy được giàn xếp chỉ bằng chút khả năng gồng mình chịu đựng của hành giả. Từ nắng gió mưa sương đến những trò đời nghiệt ngã đều phải được đón nhận bằng hai hàm răng cắn chặt. Bị đau nhưng không để khổ, bị thất nhưng không bại, nghèo nhưng không hèn, nhẫn mà không nhục.

    5) Đào Tị Lăng Ba Thủy: Nhiều lúc tục lụy phải được chấm dứt bằng sự lẫn tránh. Không phải lúc nào sự đương đầu đối mặt cũng là thượng sách khi mà hành giả chưa đủ nội lực hoặc sự va chạm đó không thực sự cần thiết mà chỉ làm tiêu hao tâm huyết.

    6) Khu Tà Tục Cốt Tán: Có những trường hợp tục lụy cần được chấm dứt bằng sự trực diện để nhổ cỏ tận gốc. Biết đó là ác niệm độc hại thì lập tức đối trừ không lần lửa.

    7) Huân Tu Tráng Lực Đơn: Là trường hợp các tục lụy được giải quyết bằng việc tu tập các Giác Chi theo thế đối trọng. Thiện đến thì ác đi. Trong một không gian nội tâm không thể cùng lúc hiện hữu hai món tương khắc. Bởi xưa nay chánh tà bất luỡng lập
.

Friday, November 12, 2010

Việt-Nam vào những năm 1884-1885 -Những tấm hình của Bác Sĩ Hocquard

2- Thành Sơn-Tây (1884):
- Cửa Ðông của thành Sơn-Tây


- Chùa Phu-Ni gần Sơn-Tây


- Một chùa nhỏ gần Sơn-Tây


3- Thành Nam-Ðịnh (1884):
- Cổng thành Nam-Ðịnh


- Ðền thờ chánh của thành Nam-Ðịnh


- Một nhà thờ Thiên Chúa Giáo ở Nam-Ðịnh


4- Quân đội Pháp (1884-1885):
- Tàu chiến Le Yatagan trên sông Hồng


- Toàn bộ tổng tham mưu của tướng Brière de Lisle


- Lính Tập ở miền Bắc



5- Hà Nội (1884-1885):

- Ðiện Kính-Thiên bị lính Pháp biến thành đồn trấn thủ


- Trại lính tập bên bờ hồ Hoàn Kiếm


- Chùa Báo ân


- Một nhà dòng Thiên Chúa Giáo ở Hà Nội


6- Con người (1884-1885):
- Con gái Hà Nội


- Người đàn bà trẻ Sàigòn


- Một viên quan


- Lính tập miền Bắc (Linh thú)


- Trí thức và thông dịch viên làm việc cho quan Khâm sứ Hà Nội


- Quan Tổng-Ðốc Hà Nội và đoàn tùy tùng


7- Cuộc sống hằng ngày (1884-1885):
- Thợ đúc bạc


- Thợ rèn


- Dệt tầm


- Kéo sợi


- Vũ công


- Dân khuân vác


8- Dân tộc thiểu số:
- Phụ nữ người Thượng


- Gần Sàigon, người Thượng đón chờ một tướng người Pháp


- Đà-Lạt, một ngày lễ hội


- ChaPa, một gia đình người Mèo Trắng


- Cao-Bằng, phụ nữ Nongs


9- Lễ đăng quang của vua Bảo Ðại:
- Bá quan phủ phục


- Vua Bảo Ðại và đoàn hộ giá


- Chánh quyền bảo hộ Pháp ra về


10- Lễ táng của vua Khải Ðịnh:
- Toàn quyền Pháp đến dự lễ


- Lễ động quan với sự hiện diện của những nhân vật quan trọng


- Vua Bảo-Ðại mặc tang phục đứng kế bên quan tài


- Ðàn voi đi mở đường