Thursday, July 1, 2010

Thử kiếm Katana - Tameshi-giri

Photobucket

Thử kiếm Katana - Tameshi-giri


Mỗi thanh kiếm Nhật sau khi làm ra đều đựoc mang đi thử trước khi sử dụng. Ngừoi Nhật thử kiếm bằng rất nhiều cách... Nhưng đây là các cách thông dụng và cụ thể nhất :

1 - Thử trên bù nhìn bằng rơm :
Khi chém vào rơm, lực cản rất thấp, không thể lướt qua 1 cách nhẹ nhàng, mà sẽ kéo lê rơm theo từng nhát chém. Tùy từng lượng rơm bị đứt và lượng rơm bay ra, ngừoi ta sẽ đánh giá đựoc thanh kiếm có tốt về chất lựong Sau khi chém rơm thường ngừoi ta sẽ đem bù nhìn ra nhuộm dầu oliu hay nước để chém tiếp, cách thực hiện là cứ chém tiếp vào bù nhìn, và đánh giá cũng y như trên. Đây là cách thử kiếm cổ truyền, của những thanh kiếm basic, làm cho quân nhân, nên không cần chú trọng lắm đến chất lượng. Nếu thanh kiếm chém dứt nhiều rơm quá, ngừoi ta chỉ đem đi mài lại là dùng ok.


2 - Thử trên ống trúc :
- Nhật Bản có những rừng trúc rậm rạp và đó cũng là nguyên liệu chính để thử những thanh kiếm sau khi làm ra. Ngừoi thử kiếm sẽ phạt 1 nhát kiếm ngang qua ống trúc, và thử kiểu này thi` hầu hết các ống trúc đều bị gãy, nhưng điều quan trọng ở đây là vết chém để lại cái gì trên mỗi ống trúc bị chém. Chỗ chém phải thật mịn và ko để lại tì vết mới là kiếm chuẩn. Cách thử kiếm này cũng chỉ giới hạn là các thanh kiếm làm cho quân nhân binh sỹ, không có gì đặc sắt , nổi bật.


3 - Thử kiếm trên xác chết và tử tù :
- Cách thử kiếm này vô cùng man rợ. Người tử tù hay xác chết sẽ bị đem treo lên và lãnh án tra tấn toàn thân. Người thử kiếm lúc này sẽ là một tên đồ tể, chém từng khúc trên cơ thể của nạn nhân bị thử. Với xác chết thì không nói làm gì , còn với tử tù, họ sẽ có 2 cách thử kiếm riêng biệt :


Cách 1
Chém vào cổ truớc, kết thúc cuộc sống của tử tù sau đó mới thử kiếm. Cách này sẽ biến ngừoi tử tù nhanh chóng trở thành 1 cái xác để tiến hành thử kiếm, và cách thử cũng giống như thử trên xác chết, kiếm sẽ chém vào từng bộ phận trên cơ thể nạn nhân. Chém tử cổ tay ( dễ nhất ), đến chém ngang hông ( khó nhất ). Đánh giá bằng cách mỗi nhát kiếm chém vào phải thật ngọt, chém phải đứt, phải lìa. cái nào mà cứ để lủng lẳng xác thịt kết dính với nhau thì là kiếm không đạt tiêu chuẩn .


Cách 2
Không kết liễu nạn nhân, coi thử kiếm như 1 công cuộc tra tấn khủng khiếp. Nạn nhân sẽ bị chém, đâm, chọc ngoáy từng bộ phận trên cơ thể mình, đánh giá bằng cách nào ? Nhiều ngừoi sẽ nghĩ rằng người sống càng thấy đau, thi` kiếm càng ngon ? Cái lối suy nghĩ này hoàn toàn sai .... Sau mỗi nhát kiếm (lấy ví dụ một nhát kiếm chém vào cổ tay tử tội ) Chém làm sao mà phải 2 đến 3 giây sau ngừoi tử tội mới gào lên đau đớn thảm thiết ... thi` kiếm mới đạt đến độ chuẩn, sắc của nó ( sắc để ngừoi tử tội cảm nhận đựoc nỗi đau bị dứt thịt ). Cách thử kiếm kiểu này chỉ áp dụng cho kiếm của các shogun, daimyo thôi, thời này mà thử kiểu này chắc chỉ có mấy tay biến thái bệnh hoạn man rợ ....


4 - Thử trên lá :
Cách này là một dạng đặc biệt, chỉ thử khi ngừoi làm kiếm thích ngắm thành quả của mình, cách này thông dụng. Thanh kiếm làm ra, sẽ cắm vào 1 dòng suối chảy thật siết, mỗi lá cây rơi xuống, xuôi theo dòng, vướng phải kíếm, nếu kiếm không tốt thì miễn bàn luận ở đây ... , còn nếu kiếm thật tốt, thi` lá cây sẽ bị xẻ tiếp làm đôi, và xuôi theo dòng. Thợ làm kiếm chỉ việc đứng cuối dòng suối, nhặt chiếc lá lên và ngắm thành quả của mình.


Chi tiết cách thử kiếm thứ 3:
Trong thời đại Edo, chỉ có những kiếm sĩ bậc nhất mới đựoc thử những thanh kiếm chế tạo riêng cho hoàng gia. Thông thường kiếm đựoc phân loại trước, rồi mới qua tay nguời thử kiếm . Chính vi` vậy mà không phải sợ chuyện chênh lệch trong kỹ năng khi test thử kiếm, để có thể đánh giá những thanh kiếm 1 cách công bằng nhất. Và những thanh kiếm hoàng gia đều đựoc thử trên cơ thể ngừoi. Các nhát chém vào mắt cá chân ( tabi-gata ) cho đến ngang vai, và hông ( O-kesa ). Mỗi cái tên, đựoc đặt cho các bộ phận trên cơ thể ngừoi, chính la` tên mà các nhát chém đựoc thực hiện tại nơi đấy . có 5 chỗ để test kiểm nghiện kiếm tất cả gọi là Ryu Guruma.
Các cách thực hiện thử kiếm, cũng tương tự các bài tập kata, chém chéo ( Kesa ), vuốt ngược lên ( Kiri-age ), phạt ngang ( Yoko ), va` bổ dọc (Jodan-giri, Happonme, hay Dotan ). Dễ nhất là bổ dọc và khó nhất là chém phạt ngang.


Phân loại các trường phái thử kiếm :
- Ishi Yama Ryu
- Shinkendo
- Battodo Ryu Sei Ken
- Toyama-ryu
- Nakamura Ryu
- Mugai-ryu- MJER ( Jikishinkai )
- Sekiguchi Ryu

Cách chém mẫu :
Dotan — Dùng một lực thật mạnh, phang từ trên xuống, xuyên qua mọi vật cản.
Kasumi — 2 nhát chém liên tiếp, khi chém lìa bộ phận đầu, thì chém luôn vào cái bộ phận lìa đấy trước khi nó rơi.
Mizu Gaeshi — Giống Kasumi, khác ở cách thực hiện.
Yoko Narabi — 1 nhát chém thoải mái, chéo ngang dọc

Trích từ sách :Swords of Itsukushima Shrine . Chưong Mục :The swords from the Heian period to Edo period - Tameshigiri

Photobucket

Samurai - Hara-kiri ( Seppuku)

Photobucket

Ngược lại dòng lịch sử Nhật Bản, Samurai là một giai cấp chiến binh thị vệ đầu tiên do triều đại Mạc Phủ Đằng Nguyên (thế kỷ 12) thiết lập nhằm tạo ra một giai cấp chiến binh trung thành để bảo vệ ngôi vị Shogun (Tướng Quân) của dòng họ Đằng Nguyên. Người nào muốn trở thành Samurai thì phải hội đủ ba yếu tố: trung thành – can đảm – danh dự. Để gìn giữ các yếu tố này một cách tuyệt đối, có trách nhiệm, các samurai phải qua những chuẩn bị cần thiết để có thể đương đầu với kẻ thù. Họ được tập luyện kiếm cung từ nhỏ, thực hành trà đạo, thi ca và hội họa. Từ đó, tinh thần Thần Đạo, Võ sĩ đạo đã dần dần thấm nhuần vào tư tưởng hành động của các samurai. Cũng vào thời gian trước đó ít thế kỷ, tư tưởng Phật giáo, nhất là tinh thần an nhiên của Phật giáo Thiền tông vốn chuộng sự đơn giản và tĩnh lặng cũng ảnh hưởng mạnh đến xã hội Nhật đương thời. Sự an nhiên tạo cho các samurai sự bình tĩnh và bình thản trước mọi tình huống. Sự đơn giản giúp cho samurai nhìn nhận ngay cả sự sống chết cũng là một sự đơn giản, một sự nhẹ nhàng tựa như đời sống của hoa Anh Đào. Anh Đào là loại cây thường nở hoa vào cuối tháng 3 hàng năm. Hoa Anh Đào chỉ nở khi tiết trời đã ấm lên .
Đời sống của những đóa hoa Anh Đào thật ngắn ngủi, nhưng có hai lần trở thành tuyệt đẹp: khi hoa nở rực rỡ dưới ánh nắng xuân và khi hoa bay theo làn gió lìa cành. Samurai tự ví đời sống mình đẹp như đời sống của đóa hoa anh đào. Ở đó, sự sống và sự chết đều có nét đẹp khác nhau. Sự can đảm đã tạo dựng cho các samurai xem cái chết như là một điều vinh dự, một cái đẹp của cánh hoa đào rơi. Kẻ mạnh bao giờ cũng được tôn sùng bởi kẻ yếu, nhờ chiến đấu giỏi họ bảo vệ được quyền lợi của kẻ yếu. Những biệt tài đó nâng kẻ mạnh thành người hùng, thành những chiến sĩ, kiếm sĩ lỗi lạc. Phát triển từ thế kỷ thứ 3 cho đến thế kỷ thứ 12, võ sĩ đạo bắt đầu hình thành, lớn mạnh trong xã hội Nhật và đến triều đại Tokugawa (1603-1867) đã đóng một vai trò quan trọng dưới trướng hai thế lực lớn ở Nhật là Taira và Minamoto. Để có được lực lượng tuỳ tùng giỏi, các lãnh chúa đã tổ chức những kiếm sĩ, những võ sĩ đạo xuất sắc thành một đạo quân được gọi là shogun.
Người võ sĩ đạo có nhiều đặc quyền, họ được phép mang hai thanh kiếm khác nhau ở bên trái, một dài (katana hoặc tachi) một ngắn (wakisashi) và có thể thêm một con dao nhỏ được gọi là tanto, thông thường dùng để mổ bụng tự sát (hara-kiri hoặc seppuki). Tất cả những vũ khí này đã được sử dụng vào cuối thời Kamakura (1185-1333), trước đó cung tên là vũ khí chính. Người dân bình thường không được phép mang các loại vũ khí đó và có thể bị chém nếu có ý định chống đối võ sĩ đạo. Về trang phục, giới võ sĩ đạo cũng khác. Thường thì họ mặc kimono. Ở giữa thế kỷ thứ 12 và 17 dưới triều đại Edo, bộ 2 mảnh hitatare rất phổ biến mà chúng ta thường thấy trong nhiều bộ phim như Kagemusha, Ran, Throne of Blood, Heaven and Earth... Bên cạnh đó, trên ngực áo của họ còn có mang phù hiệu tương tự như cờ xí của đạo quân shogun mà họ trực thuộc. Sau một thời gian, hitatare mở đường cho bộ kamishimo mà các võ sĩ đạo hay mặc bên ngoài chiếc kimono của mình, phần trên được gọi là kataginu tương tự như một chiếc áo khoác ngoài, phần dưới gọi là hakama, hai ống quần rộng rãi và thoải mái hơn. Kiểu tóc của võ sĩ đạo có truyền thống theo lãnh chúa. Người Nhật vẫn có thói quen buộc một chùm tóc ở ngay trên đỉnh đầu, có lẽ ảnh hưởng từ Trung Quốc dưới triều Asuka-Nara và Heian. Kiểu Mitsu-ori, futatsu-yori cũng là những kiểu tóc rất phổ thông ở thế kỷ thứ 16. Kiểu cạo đầu ở trước trán cũng là thời trang của những năm đầu triều đại Edo, rất được các võ sĩ đạo hưởng ứng. Kiểu tóc này phù hợp với các võ sĩ đạo khi mang eboshi, được làm bằng vải đen và được buộc bằng những tua chỉ gấm. Qua kiểu ăn mặc này người chung quanh có thể nhận ra ai là võ sĩ đạo. Ngoài eboshi dùng trong những lúc bình thường, người võ sĩ đạo trong thời chiến còn được trang bị áo giáp (kikou) rất nặng nề (như Tom Cruise trong bộ phim The Last Samurai), khác biệt tuỳ theo cấp bậc trong giới võ sĩ đạo. Những loại áo giáp chiến đấu và những chiếc mũ (kabuto), mặt nạ (mempo) được làm bằng tre, vải, da, và kim loại đặc biệt để che chở toàn thân.
Cuối thế kỷ thứ 15, đạo quân Ashikaga mất quyền kiểm soát lãnh thổ, các lãnh chúa tranh chấp liên miên và nội chiến kéo dài gần 100 năm. Khi Toyotomi Hideyoshi cuối cùng thống nhất được lãnh thổ, ông đã đưa ra một loạt những thay đổi mới cho võ sĩ đạo. Ông tổ chức cho người võ sĩ đạo có một cuộc sống ổn định hơn trong những dinh thự, lâu đài (tenshu), từ đó họ có thể tự quản lý và phòng chống kẻ thù từ bên ngoài .
Đây là bước chuyển biến căn bản thay đổi võ sĩ đạo thành đội ngũ quân sự chuyên nghiệp. Để thực hiện công việc đó, Toyotomi Hideyoshi đã áp dụng phương pháp đánh thuế trên lúa gạo nhằm xác định cấp bậc võ sĩ đạo để quản lý và phát triển. Những nguyên tắc bao gồm qui luật, lời tâm niệm và phong cách của người kiếm sĩ, võ sĩ đạo được gọi là bushido (Luật chiến binh). Điểm chủ yếu là trung thành với lãnh chúa daimyo, tự quản, nói thật và không bộc lộ tình cảm của mình cho người khác biết. Mỗi một đạo quân shogun đều có nguyên tắc danh dự và hành xử riêng của mình, chẳng hạn trong thời Chosokabe Motochika (khoảng 1596), người võ sĩ đạo say sưa quá độ, làm ảnh hưởng đến người khác có thể bị chém đầu. Hoặc thời Takeda Shingen (1547), lấy vợ lấy chồng ngoài lãnh thổ cai trị của lãnh chúa là cấm kỵ. Hầu hết những nguyên tắc của người võ sĩ đạo đều dựa trên căn bản triết lý của đạo Khổng, đạo Phật và Thần đạo. Sau khi triều đại Meiji phục hưng (Minh hoàng Thiên trị, 1868-1912), những nguyên tắc của người võ sĩ đạo được duy trì và rèn luyện trong quân đội Nhật hoàng cho đến năm 1945. Ảnh hưởng này đã khống chế nhiều binh sĩ Nhật. Áp dụng nguyên tắc của người võ sĩ đạo trong Thế Chiến thứ II, không phản bội Tổ quốc, trung thành với Nhật hoàng nên họ đã tự sát trong danh dự để không bị bắt, đầu hàng hoặc trở thành tù nhân. Cái chết đối với người võ sĩ đạo nhẹ như bông, nhưng chết trong danh dự hay chết trong ô nhục mới là vấn đề then chốt. Seppuku là một hình thức tự sát được xem là danh dự, đây là một phần truyền thống võ sĩ đạo, một phần mà những kiếm sĩ không thể từ chối. Hara-kiri cũng là một hình thức tự sát tương tự, đúng nghĩa của nó là mổ bụng. Seppuku được tiến hành ở ngoài chiến trường, bằng một nghi lễ đặc biệt, tất cả mọi người đều có thể tham dự và chứng kiến. Một khi người võ sĩ đạo đã tự mổ bụng mình, liền tiếp theo đó là đầu rơi. Chết như vậy đối với các võ sĩ đạo là một vinh quang, họ chết vì lãnh chúa để chứng minh lòng trung thành với chủ. Truyền thống này sau đó đã không được các quan cao cấp trong nhiều triều đại của Nhật ủng hộ. Kể từ năm 1603, và một lần nữa vào năm 1663 thực hiện Seppuku đã bị cấm.
Một cây Anh Đào cho dù có nở rộ cả cây nhưng quả thật một cây Anh Đào cũng không có gì hấp dẫn lắm cho người thưởng ngoạn. Nhưng một vườn Anh Đào nở rộ bên chùa, một rừng Anh Đào nở rộ trên núi thì người ta mới thấy được cái vẻ đẹp thật lạ lùng của xứ Phù Tang .

Theo Viện nghiên cứu Đông Bắc Á
Bushido - The way of the Warrior The Unfettered Mind

47 Ronin

Photobucket

Dưới lưỡi kiếm giơ cao
Có địa ngục làm cho người run sợ;
Nhưng phải tiến ,
Người sẽ đến đất thần tiên ...

Tại thành phố Kyoto có vô số các đền đài, nhưng ngôi đền làm những người yêu thích võ thuật lưu ý nhất chính là ngôi đền Sengakuji . Thật vậy, chính tại đây là nơi chôn cất 47 chàng hiệp sĩ Ronin hay còn gọi là các Samurai không chủ. Họ đã tự sát ngày 4.02.1703 sau khi đã trả được mối thù cho lãnh chúa của họ. Ngoài các ngôi mộ và ngôi đền, còn có một bảo tàng lưu trữ các đồ vật, y phục và giáp mão của 47 chàng Samurai, đặt biệt là các dụng cụ thường dùng trong các nghề nghiệp khác nhau của họ để làm người ta quên đi tính cách một Samurai nơi họ. Vào nghĩa trang, khách hành hương Nhật thường mua nhang đến cắm trên các ngôi mộ của vị Lãnh chúa hoặc phu nhân của người, hay trên một trong các ngôi mộ của một trong các Samurai đã được lưu danh vì tính can trường của họ. Khách thập phương nối đuôi nhau đến chiêm bái lòng quả cảm và sự hy sinh của 47 hiệp khách Ronin
Năm 1701, Tướng quân Tokugawa là người mang trọng trách điều hành quốc sự được giao cho hai vị quý tộc trẻ trách nhiệm tiếp đón các đại diện của Thiên Hoàng đến chuyển lời chúc đầu năm cho Tướng quân như thường lệ hàng năm. Hai vị quý tộc đó là Naganori Asano , lãnh chúa xứ Ako và Sakyo Date lãnh chúa vùng Yoshida . Để hướng dẫn họ trong công việc tế nhị đó , Tướng quân Tokugawa đã phái đi theo họ vị nội phủ Tổng quản Yoshinaka Kỉa , một quý tộc già rất thành thuộc các nghi thức của triều đình . Rủi cho họ, Kỉa là một kẻ hèn hạ và huênh hoang, chỉ nghĩ đến vấn đề tiền bạc. Thoạt tiên, ông ta cư xử với hai nhà quý tộc miền quê với một vẻ khinh miệt . Date may mắn có trong số phục nhân của mình một viên cố vấn tài tình , tên này đã đem tặng viên tổng quản những tặng phẩm hậu hỹ. Còn Asano , một con người đứng đắn và khiêm tốn, đã tặng cho Kỉa một tác phẩm nghệ thuật không mấy có giá trị thương mại. Từ đó viên tổng quản đối với Date một cách nhã nhặn và ân cần, trong khi tìm cách châm chọc và chê bai Asano . Asano tự cố gắng kềm chế mình và không để lộ tâm tư ra ngoài. Nhưng Kỉa lại cho đó là thái độ hèn nhát và tình hình vào thời điểm đó càng trở nên nặng nề hơn.
Ngày diễn ra cuộc tiếp đón các sứ giả của Thiên Hoàng, cả các hàng quý tộc đều tề tựu lại. Viên tổng quản gọi Asano là tên nhà quê . Nghe những lời nói đó, vị lãnh chúa vùng Ako không thể kềm chế được nữa . Ông rút kiếm và chém ngay đỉnh đầu Kỉa , nhưng nhát kiếm đã bị búi tóc làm trượt đi . Vào thời đó, luật nghiêm cấm việc tuốt kiếm trong dinh Tướng quân, ngược lại sẽ bị chết.
Asano biết rõ điều đó, nhưng ông thà chết hơn là mất danh dự. Nhờ một lệnh đặc biệt, ông không bị treo cổ, nhưng bị bắt buộc phải Hara-kiri (mổ bụng tự sát). Đây là hình thức thụ hình cho phép người có tội cứu vãn được danh dự và chuộc lại lỗi lầm. Lãnh địa của Asano bị sung vào công quỹ và các bầy tôi bị phân tán . Asano chấp nhận bản án, tự mổ bụng với một con dao rồi đâm lưỡi dao vào cổ . Theo lời của ông , một trong những bầy tôi đem lưỡi dao này giao lại cho Yoshikata Oishi , viên thống lãnh các Samurai thuộc quyền với bức thư chỉ rõ chính Kỉra là kẻ đã gây nên cái chết của ông . Oishi bắt đầu tiến hành công việc của mình bằng cách đi tìm hiểu vế Kira . Tên này vì lo sợ các thuộc hạ của Asano trả thù, đã cho tăng cường lâu đài của mình thành một nơi hầu như bất khả xâm phạm. Tiếp đó Oishi cho tập hợp tất cả các Samurai trung thành nhất, con số lên đến 48. Ông bắt họ phải thề sẽ dùng tính mạng của mình để trả thù cho chủ tướng. Họ trở thành những Ronin ( các Samurai không chủ). Nhiều người chấp nhận hy sinh và bỏ đi tư cách Samurai của mình.
Đối với họ đó là một sự thoái hóa khủng khiếp của phong tục thời bấy giờ. Họ trở thành những người thợ mộc, thợ rèn, những người lái buôn… Họ tìm hết mọi cơ hội xâm nhập vào lâu đài của Kỉra và nghiên cứu hệ thống phòng thủ của nơi đó . Oishi vì biết mình luôn luôn bị các tên gián điệp của Kỉra dòm ngó nên đã sống một cuộc đời trác táng sau khi đã từ bỏ nghề cũ của mình. Ông thường xuất hiện nơi các nhà thổ, say sưa, và cuối cùng ông đã ly dị vợ của mình . Sau hai năm sống trác táng như vậy, Kira phái một Samurai bạn của Oishi đến để thử Oishi, nhưng ông vẫn tiếp tục đóng vai một tên say rượu. Kira cảm thấy yên tâm hơn nên cho giảm bớt một nữa số cận vệ và giảm bớt việc canh phòng
Lúc bấy giờ Oishi quyết định triệu tập các Samurai trung thành với Asano lại . Trong số 48 người đã thiếu mất một người, vị này vì không muốn cãi lại cha mình nên đã tự vận vì bị cha cấm không được trả thù. Được tin Kira tổ chức một cuộc lễ tại nhà vào ngày 14.12 , Oishi đã chọn ngày đó để hành động. ông ta đã ra lệnh không được giết người già, đàn bà và con nít . Vào đúng nửa đêm các Ronin bắt đầu tấn công. Họ chia thành hai nhóm áp sát vào lâu đài và khống chế các vệ sĩ của Kỉra , giết 16 tên và làm bị thương 23 tên khác.
Nhưng tên chủ của tòa lâu đài thì đã trốn mất ... Cuối cùng, một trong những chàng Ronin là Surato đã tìm ra y núp trong nhà kho. Oishi đến quỳ trước Kira và sau khi tự xưng tên họ và mời viên Tổng quản hãy tự sát bằng phong tục Hara-kiri (mổ bụng tự sát). Quá khủng khiếp, Kỉra tìm cách chạy trốn . Oishi đâm vào y bằng chính con dao mà trước kia Asano đã dùng để tự sát rồi chém đầu Kira . Tiếp đó, cả 47 chàng Ronin đi ngang qua thị trấn và cùng đến nghĩa trang của ngôi đền Sengakuji , nơi mà chủ nhân họ , Asano, lãnh chúa miền Ako đã được chôn cất . Oishi lấy nước ở giếng của ngôi đền lau đầu Kỉra ra và đặt lên mộ của Asano để tế chủ tướng mình .
Vào thời đó, tiết tháo của một Samurai coi việc trả thù như là một trách nhiệm thiêng liêng. Thế nhưng giết người là một trọng tội bị luật pháp lên án . Do đó 47 chàng Ronin được lệnh phải hara-kiri (mổ bụng tự sát). Ngày 2 -4 -1703 tất cả đều tự sát . Họ được chôn cất trong nghĩa trang của ngôi đền Sengakuji để được an nghỉ bên cạnh lãnh chúa theo ý nguyện của họ. Nơi đây còn một ngôi mộ 49 , vì một Samurai một lần đã lên tiếng thóa mạ Oishi và mạt sát ông là kẻ ăn chơi trác táng và hèn nhát. Người Samurai đó sau khi hiểu được sự lầm lẫn của chính mình , anh đến tự sát bên cạnh ngôi mộ của người trung kiên Oishi và được chôn cất bên cạnh ông ta.
Huyền thoại về 47 chàng Ronin là huyền thoại phổ biến tại Nhật Bản , được đặt nền tảng trên một chuyện có thật và khu nghĩa trang của ngôi đền Sengakuji (Chiêm các tự) đã thành một điểm hành hương được khách thập phương đến chiêm bái một cách tôn kính . Người ta vẫn còn thấy cái giếng mà tại đó đầu Kira đã được lau rửa . Vẫn còn thấy ngôi mộ của lãnh chúa Asano và của vợ ông ta . Lẽ tất nhiên có cả các ngôi mộ của những chàng Ronin trung tín. Từ gần 300 năm qua, người Nhật vẫn không ngớt đến thắp nhang tưởng nhớ các vị anh hùng này. Các bậc cha mẹ đưa con đến nghĩa trang và kể cho con nghe câu chuyện về sự can trường và lòng tận tụy vô bờ bến ấy. Và như thế, chắc hẳn ký ức về 47 chàng Ronin sẽ còn được lưu truyền tiếp tục cho các thế hệ mai sau.
Hagakure : The Book of the Samurai - Yamamoto Tsunetomo, William S. Wilson Báo Black Belt
Photobucket

Tìm Hiểu Thêm Về Samurai


Photobucket
Người Nhật vẫn có thói quen buộc một chùm tóc ở ngay trên đỉnh đầu, có lẽ ảnh hưởng từ Trung Quốc dưới triều Asuka-Nara và Heian. Kiểu Mitsu-ori, futatsu-yori cũng là những kiểu tóc rất phổ thông ở thế kỷ thứ 16. Kiểu cạo đầu ở trước trán cũng là thời trang của những năm đầu triều đại Edo, rất được các võ sĩ đạo hưởng ứng. Kiểu tóc này phù hợp với các võ sĩ đạo khi mang eboshi, được làm bằng vải đen và được buộc bằng những tua chỉ gấm. Qua kiểu ăn mặc này người chung quanh có thể nhận ra ai là võ sĩ đạo. Ngoài Eboshi dùng trong những lúc bình thường, người võ sĩ đạo trong thời chiến còn được trang bị áo giáp (kikou) rất nặng nề (như Tom Cruise trong bộ phim The Last Samurai), khác biệt tuỳ theo cấp bậc trong giới võ sĩ đạo. Những loại áo giáp chiến đấu và những chiếc mũ (kabuto), mặt nạ (mempo) được làm bằng tre, vải, da, và kim loại đặc biệt để che chở toàn thân.

Cuối thế kỷ thứ 15, đạo quân Ashikaga mất quyền kiểm soát lãnh thổ, các lãnh chúa tranh chấp liên miên và nội chiến kéo dài gần 100 năm. Khi Toyotomi Hideyoshi cuối cùng thống nhất được lãnh thổ, ông đã đưa ra một loạt những thay đổi mới cho võ sĩ đạo. Ông tổ chức cho người võ sĩ đạo có một cuộc sống ổn định hơn trong những dinh thự, lâu đài (tenshu), từ đó họ có thể tự quản lý và phòng chống kẻ thù từ bên ngoài. Đây là bước chuyển biến căn bản thay đổi võ sĩ đạo thành đội ngũ quân sự chuyên nghiệp. Để thực hiện công việc đó, Toyotomi Hideyoshi đã áp dụng phương pháp đánh thuế trên lúa gạo nhằm xác định cấp bậc võ sĩ đạo để quản lý và phát triển. Những nguyên tắc bao gồm qui luật, lời tâm niệm và phong cách của người kiếm sĩ, võ sĩ đạo được gọi là bushido (Luật chiến binh). Điểm chủ yếu là trung thành với lãnh chúa daimyo, tự quản, nói thật và không bộc lộ tình cảm của mình cho người khác biết. Mỗi một đạo quân Shogun đều có nguyên tắc danh dự và hành xử riêng của mình, chẳng hạn trong thời Chosokabe Motochika (khoảng 1596), người võ sĩ đạo say sưa quá độ, làm ảnh hưởng đến người khác có thể bị chém đầu. Hoặc thời Takeda Shingen (1547), lấy vợ lấy chồng ngoài lãnh thổ cai trị của lãnh chúa là cấm kỵ. Hầu hết những nguyên tắc của người võ sĩ đạo đều dựa trên căn bản triết lý của đạo Khổng, đạo Phật và Thần đạo. Sau khi triều đại Meiji phục hưng [/i[i]](Minh hoàng Thiên trị, 1868-1912), những nguyên tắc của người võ sĩ đạo được duy trì và rèn luyện trong quân đội Nhật hoàng cho đến năm 1945. Ảnh hưởng này đã khống chế nhiều binh sĩ Nhật. Áp dụng nguyên tắc của người võ sĩ đạo trong Thế Chiến thứ II, không phản bội Tổ quốc, trung thành với Nhật hoàng nên họ đã tự sát trong danh dự để không bị bắt, đầu hàng hoặc trở thành tù nhân.
Cái chết đối với người võ sĩ đạo nhẹ như bông, nhưng chết trong danh dự hay chết trong ô nhục mới là vấn đề then chốt. Seppuku là một hình thức tự sát được xem là danh dự, đây là một phần truyền thống võ sĩ đạo, một phần mà những kiếm sĩ không thể từ chối. Hara-kiri cũng là một hình thức tự sát tương tự, đúng nghĩa của nó là mổ bụng. Seppuku được tiến hành ở ngoài chiến trường, bằng một nghi lễ đặc biệt, tất cả mọi người đều có thể tham dự và chứng kiến. Một khi người võ sĩ đạo đã tự mổ bụng mình, liền tiếp theo đó là đầu rơi. Chết như vậy đối với các võ sĩ đạo là một vinh quang, họ chết vì lãnh chúa để chứng minh lòng trung thành với chủ. Truyền thống này sau đó đã không được các quan cao cấp trong nhiều triều đại của Nhật ủng hộ. Kể từ năm 1603, và một lần nữa vào năm 1663 thực hiện Seppuku đã bị cấm. Tuy vậy, hiện tượng tự sát vẫn không dứt hẳn… Ý nghĩ tự sát trong danh dự là cách giải thoát lý tưởng của nhiều người Nhật trong xã hội hiện đại. Nhật Bản là một trong những quốc gia trên thế giới có nhiều vụ tự sát. Họ tự sát có thể vì thất bại công việc làm ăn trên thương trường hoặc chỉ vì thi rớt.
Trong triều đại Edo và Tokugawa (1600-1867) nước Nhật sống trong cảnh thanh bình. Tokugawa Ieyasu chọn Edo làm bộ tổng chỉ huy (bakufu) của đạo quân Shogun. Đến đầu thế kỷ thứ 19 thì triều đại Tokugawa đình đốn và suy sập, hệ thống võ sĩ đạo yếu đuối. Tàu nước ngoài đổ bộ, giao thương và du nhập văn hoá phương Tây đã trở thành mối lo ngại của triều đình Tokugawa. Thất bại trước người nước ngoài và bất lực trong việc phát triển đất nước, Hoàng đế Keiki từ chức, đạo quân Samurai cuối cùng tan rã. Meiji Mutsuhito lên ngôi nắm tất cả quyền lực. Năm 1871 giới võ sĩ đạo hoàn toàn bị bãi bỏ. Các lãnh chúa Daimyo mất hết quyền hành và khả năng kiểm soát nên đã giao lại lãnh thổ cho Thiên hoàng. Meiji thống nhất đất nước mặt trời, đặt Edo làm thủ đô, bây giờ gọi là Tokyo. Nhưng mọi chuyện vẫn chưa chấm dứt. Các võ sĩ đạo nhóm lại dưới sự lãnh đạo của Saigo Takamori (1827-1877), một nhân vật đầy quyền lực ở miền nam bán đảo Kyushu có tham vọng phục hồi lại triều đại cũ cùng đạo quân Tokugawa. Tiếc thay, chỉ khoảng 9 năm sau - năm1877 - cuộc chiến xảy ra, Saigo Takamori, lãnh tụ đạo quân phiến loạn Satsuma đã hoàn toàn thất trận trước lực lượng quân đội hiện đại của Nhật hoàng. Hơn 40 ngàn võ sĩ đạo đã bị đẩy lui bởi 60 ngàn lính của Thiên hoàng. Một cuộc hỗn chiến đẫm máu. Cuối cùng Saigo Takamori đã bị thương và phải tự sát theo truyền thống võ sĩ đạo .
Dù Nhật hoàng đã chiến thắng vang dội, Saigo Takamori vẫn được xem là người anh hùng có tinh thần và truyền thống võ sĩ đạo bất khuất. Ngày nay tại Nhật Bản, tuy võ sĩ đạo không còn vai trò chủ đạo trong xã hội nhưng nó vẫn sáng ngời và hiện diện như một niềm tin kiêu hãnh trong những gia đình còn mang đậm phong cách truyền thống Nhật. Giờ đây, thế hệ trẻ Nhật Bản đang bị ảnh hưởng mạnh vì văn minh Âu Mỹ đang xâm lấn vào trong nếp sống của người Nhật. Chúng ta đang có cơ hội nhìn xem con thuyền Nhật Bản sẽ như thế nào trong những thập niên tới. Giai cấp Samurai cuối cùng đã tan rã hơn 130 năm nay, nhưng tinh thần võ sĩ đạo của Samurai vẫn mãi còn tiềm tàng trong tinh thần Nhật Bản. Yukio Mishima, một nhà văn lỗi lạc của Nhật đã chọn cách tự sát theo cung cách Samurai vào năm 1970 để cảnh tỉnh người Nhật về nguy cơ xâm chiếm của văn minh Âu Mỹ. Người Nhật vẫn là một dân tộc có những đặc điểm kỷ luật mà các dân tộc khác khó có thể sống như họ được. Họ vẫn có được môt tinh thần trách nhiệm cao đối với xã hội. Có lẽ đây là một giá trị tinh thần không phải một sớm một chiều mà một dân tộc nào cũng đạt được như họ. Một cây Anh Đào cho dù có nở rộ cả cây nhưng quả thật một cây Anh Đào cũng không có gì hấp dẫn lắm cho người thưởng ngoạn. Nhưng một vườn Anh Đào nở rộ bên chùa, một rừng Anh Đào nở rộ trên núi thì người ta mới thấy được cái vẻ đẹp thật lạ lùng của xứ Phù Tang.

Theo Viện nghiên cứu Đông Bắc Á

Photobucket

Samurai

Photobucket

Tìm Hiểu Thêm Về Samurai

Trong tiếng Nhật, chữ Thị được đọc là Samurai (侍). Chữ Thị là chữ được ghép bởi chữ Nhân đứng(イ) trước mặt chữ Tự(寺). Nhân có nghĩa là người, Tự có nghĩa là đền, là chùa, là dinh quan ở. Nhân đứng trước trước cửa dinh quan, cửa chùa nên có ý ám chỉ là người đầy tớ, người hầu. Trong danh từ quân sự, chúng ta có thể gọi Samurai là người thị vệ, cận vệ. Hiểu như thế thì có lẽ chúng ta mới dễ dàng phân biệt được hai chữ Samurai và Bushido (võ sĩ đạo). Hai chữ này tuy hai mà một và tuy một nhưng lại là hai.
Trở về thời xa xưa, khi mà gạo được xem là lương thực chủ yếu trên những hòn đảo ở phía đông châu Á, khoảng 5000 năm trước. Người ta đã bắt đầu sinh sống bằng nghề nông qua trồng trọt, săn bắn, nuôi gia súc, từng bước làm chủ đất đai, vườn tược. Tập họp lại thành nhóm, con người lập nên những cộng đồng để chia sẻ, trao đổi, và tự bảo vệ lẫn nhau, chống lại những áp lực bên ngoài. Theo sự phát triển của cuộc sống, việc bảo vệ lãnh thổ, đất đai đã là chuyện tất yếu và chiến tranh trở thành mối đe doạ khủng khiếp mà con người phải gánh chịu. Ngược lại dòng lịch sử Nhật Bản, Samurai là một giai cấp chiến binh thị vệ đầu tiên do triều đại Mạc Phủ Đằng Nguyên (thế kỷ 12) thiết lập nhằm tạo ra một giai cấp chiến binh trung thành để bảo vệ ngôi vị Shogun (Tướng Quân) của dòng họ Đằng Nguyên. Người nào muốn trở thành Samurai thì phải hội đủ ba yếu tố: trung thành – can đảm – danh dự. Để gìn giữ các yếu tố này một cách tuyệt đối, có trách nhiệm, các samurai phải qua những chuẩn bị cần thiết để có thể đương đầu với kẻ thù. Họ được tập luyện kiếm cung từ nhỏ, thực hành trà đạo, thi ca và hội họa. Từ đó, tinh thần Thần Đạo, Võ sĩ đạo đã dần dần thấm nhuần vào tư tưởng hành động của các Samurai
Cũng vào thời gian trước đó ít thế kỷ, tư tưởng Phật giáo, nhất là tinh thần an nhiên của Phật giáo Thiền tông vốn chuộng sự đơn giản và tĩnh lặng cũng ảnh hưởng mạnh đến xã hội Nhật đương thời. Sự an nhiên tạo cho các samurai sự bình tĩnh và bình thản trước mọi tình huống. Sự đơn giản giúp cho Samurai nhìn nhận ngay cả sự sống chết cũng là một sự đơn giản, một sự nhẹ nhàng tựa như đời sống của hoa Anh Đào.
Anh Đào là loại cây thường nở hoa vào cuối tháng 3 hàng năm. Hoa Anh Đào chỉ nở khi tiết trời đã ấm lên. Khi trời trở lạnh đúng vào dịp nụ đã căng thì cũng sẽ giữ hoa lại không nở cho đến khi trời ấm lên lại. Hoa nở bung ra ít ngày, rồi một trận gió thổi qua hay một trận mưa xuân nhẹ đến, từng cánh anh đào mỏng manh nương theo làn gió lìa hoa, lìa cành. Đời sống của những đóa hoa Anh Đào thật ngắn ngủi, nhưng có hai lần trở thành tuyệt đẹp: khi hoa nở rực rỡ dưới ánh nắng xuân và khi hoa bay theo làn gió lìa cành. Samurai tự ví đời sống mình đẹp như đời sống của đóa hoa anh đào. Ở đó, sự sống và sự chết đều có nét đẹp khác nhau. Sự can đảm đã tạo dựng cho các Samurai xem cái chết như là một điều vinh dự, một cái đẹp của cánh hoa đào rơi. Kẻ mạnh bao giờ cũng được tôn sùng bởi kẻ yếu, nhờ chiến đấu giỏi họ bảo vệ được quyền lợi của kẻ yếu. Những biệt tài đó nâng kẻ mạnh thành người hùng, thành những chiến sĩ, kiếm sĩ lỗi lạc.
Phát triển từ thế kỷ thứ 3 cho đến thế kỷ thứ 12, Võ Sĩ Đạo bắt đầu hình thành, lớn mạnh trong xã hội Nhật và đến triều đại Tokugawa (1603-1867) đã đóng một vai trò quan trọng dưới trướng hai thế lực lớn ở Nhật là Taira và Minamoto. Để có được lực lượng tuỳ tùng giỏi, các lãnh chúa đã tổ chức những kiếm sĩ, những võ sĩ đạo xuất sắc thành một đạo quân được gọi là Shogun. Trong tiếng Nhật, ý nghĩa của Samurai gần như có liên hệ đến từ “phục vụ“, nghĩa là người võ sĩ đạo là người phục vụ, phục tùng các lãnh chúa (daimyo). Theo lịch sử Nhật thì hầu hết các cuộc tranh quyền đoạt vị của các lãnh chúa daimyo đều bắt nguồn từ tranh chấp về lãnh thổ. Võ sĩ đạo Nhật đã được huấn luyện đặc biệt về quân sự để giúp các lãnh chúa trông coi nhiều vùng đất rộng, đông dân. Bên cạnh đó có những võ sĩ đạo không trực thuộc một đạo quân nào cả gọi là Ronin, tức những võ sĩ đạo không có người lãnh đạo, không có lãnh chúa hoặc người cầm đầu. Điều này có thể xảy ra khi lãnh chúa của họ qua đời, những người Ronin trung thành, không còn ai phục vụ sau đó trở về làm ruộng, đi tu, hoặc đánh thuê giết mướn hay trở thành kẻ cướp, côn đồ ....
Người Võ Sĩ Đạo có nhiều đặc quyền, họ được phép mang hai thanh kiếm khác nhau ở bên trái, một dài (katana hoặc tachi) một ngắn (wakisashi) và có thể thêm một con dao nhỏ được gọi là tanto, thông thường dùng để mổ bụng tự sát (hara-kiri hoặc seppuki). Tất cả những vũ khí này đã được sử dụng vào cuối thời Kamakura (1185-1333), trước đó cung tên là vũ khí chính. Người dân bình thường không được phép mang các loại vũ khí đó và có thể bị chém nếu có ý định chống đối võ sĩ đạo. Về trang phục, giới võ sĩ đạo cũng khác. Thường thì họ mặc kimono. Ở giữa thế kỷ thứ 12 và 17 dưới triều đại Edo, bộ 2 mảnh Hitatare rất phổ biến mà chúng ta thường thấy trong nhiều bộ phim như Kagemusha, Ran, Throne of Blood, Heaven and Earth... Bên cạnh đó, trên ngực áo của họ còn có mang phù hiệu tương tự như cờ xí của đạo quân Shogun mà họ trực thuộc. Sau một thời gian, hitatare mở đường cho bộ kamishimo mà các võ sĩ đạo hay mặc bên ngoài chiếc kimono của mình, phần trên được gọi là kataginu tương tự như một chiếc áo khoác ngoài, phần dưới gọi là hakama, hai ống quần rộng rãi và thoải mái hơn. Kiểu tóc của võ sĩ đạo có truyền thống theo lãnh chúa
Photobucket

Chiến bào Samurai



Người Nhật Bản gọi chiến bào của mình là Kikou, cùng chiếc mũ chiến đi kèm với y phục là kabuto và một thanh kiếm có thể đã rất quen thuộc với chúng ta với tên gọi katana. Khi 3 vật này đi liền với nhau, nó thể hiện cho sức mạnh vô song đã được thần linh bảo vệ, là biểu tượng cho sức mạnh của quân đội Nhật Hoàng. Mỗi một bộ chiến bào, theo quan điểm của người Nhật Bản cổ xưa rằng, nó mang theo trong mình một linh hồn, gắn liền với người tướng quân hay một chiến binh Samurai mặc bộ áo giáp đó.

Chiến bào, hay còn gọi là áo giáp bởi trong lịch sử, người Nhật chỉ sử dụng loại chiến bào được kết từ kim loại và các chất liệu khác nữa. Không giống với người Trung Hoa hay người Hàn Quốc, cùng thời điểm đó thì quân lính trong bộ binh có thể mặc áo vải lâm trận. Chỉ người chủ tướng mới mặc đến áo giáp. Các bộ chiến bào của người Nhật được chia thành 4 loại chính. Dựa vào thời kỳ ra đời của từng loại chiến bào mà chúng ta sẽ tìm hiểu về chúng theo sự phân nhánh này.
Loại thứ nhất: Oyoroi .
Loại đầu tiên có tên là O-yoroi, xuất hiện vào khoảng thế kỷ thứ 10.
Đây là loại phổ biến nhất trong các đội quân của Nhật Hoàng. Tuy vậy, nó chỉ phổ biến đối với tầng lớp thủ lĩnh, những chiến binh thuộc gia đình dòng dõi, có thân thế chứ không dành cho các Samurai thông thường.
Một bộ áo giáp tiêu chuẩn Oyoroi phải nặng 30kg. Được kết bởi da thuộc và các lớp sắt. Hầu hết chúng ta sẽ nhận ra đặc điểm quan trọng mà các bộ chiến bào phải có, đó chính là việc kết nối nhiều mảnh kim loại và các lớp kim loại ở phần thân ngực, bở vai và phần hông để ngăn những sát thương vào các khu vực quan trọng này của cơ thể người mặc. Oyoroi nổi bật bởi tính năng bảo vệ trong khi vẫn tạo cảm giác thoải mái, dễ di chuyển cho các vị thống lĩnh. Có lẽ bởi để tạo nên một bộ Oyoroi cần rất nhiều công sức bởi một người chế tác nổi tiếng, cùng việc sử dụng các chất liệu da thuộc và sắt đã tôi luyện tốt nhất…
Khác với sự kín kẽ của Oyoroi là vẻ đơn giản của chiếc chiến bào có tên gọi Domaru
Domaru thì chỉ dành cho bộ binh hay các quân lính thuộc cấp thấp trong một đội quân. Do phải di chuyển nhiều bằng đôi chân nên chiếc áo giáp này chỉ dài tới phần thắt lưng, nhìn nó có dáng như một chiếc áo phông với 2 dây đeo rất đơn giản.
PhotobucketPhotobucket
Loại thứ hai : Domaru .

Domaru xuất hiện từ thế kỷ 11, và trở nên phổ biến trong giai đoạn thế kỷ 12. Điều khác biệt lớn nữa của một chiếc áo giáp Domaru là ở chất liệu. Thay vì sử dụng các tấm kim loại nhỏ, Domaru là sự kết hợp giữa các cuộn dây thừng và da thuộc. Chính nhờ sự kết hợp này mà việc mặc và cởi của Domaru rất tiện lợi cho người sử dụng. Tuy vậy, khả năng chống đỡ đao kiếm lại kém hơn rất nhiều so với Oyoroi.
Photobucket

Loại thứ ba : Haramaki .

Ra đời muộn hơn, phải tới thế kỷ thứ 13 và có tên gọi là: Haramaki. Chiếc Haramaki có tính năng sử dụng và chất liệu tạo thành khá giống với một chiếc áo giáp loại Domaru. Tuy nhiên, về độ bền trong sử dụng thì lại không bằng 2 loại trên. Và cũng vì có chất liệu kém chất lượng hơn nên một chiếc Haramaki thường nhẹ hơn rất nhiều lần so với Oyoroi và Domaru
PhotobucketPhotobucket
Loại thứ tư : Toudei Gusoku .

Loại cuối cùng, cũng là loại đặc sắc nhất dù phong cách của nó lại là sự kết hợp giữa phong cách của một chiếc áo giáp Nhật truyền thống với phong cách của các loại áo giáp châu âu. Loại này có tên gọi là Toudei Gusoku
Về hình dáng cơ bản, một chiếc áo giáp loại này có các bộ phận đầy đủ như một chiếc Oyoroi. Nghĩa là nó phải bao gồm cả phần thân áo với các mảnh giáp che vai, che đùi cũng như phía trước và hông phía sau. Nhưng Toudei Gusoku chứng tỏ sự hoàn thiện của mình bằng cả phần giáp bao bọc lấy 2 chân, tay cũng như đùi. Nghĩa là, khi mặc chiếc chiến bào này, cộng thêm cả chiếc mũ giáp thì toàn bộ phần mềm của cơ thể người mặc đều sẽ được che kín. Vậy nên đương nhiên là nó rất khó mặc, cũng như khi mặc thì khá khó di chuyển. Vì thế, Toudei Gusoku dành chủ yếu cho các vị tướng quân, thống lĩnh cả binh đoàn nghìn quân với việc thường xuyên…di chuyển trên lưng của những chú ngựa, ngay cả khi tiến vào chiến trận.
PhotobucketPhotobucket
Những bộ chiến bào này, mỗi một bộ đều thể hiện sự khéo léo của kỹ thuật rèn và may mặc thời chiến trong lịch sử các triều đại ở Nhật Bản . Trải qua bao thăng trầm của lịch sử, những di vật độc đáo của thời gian này chỉ còn nằm lại với một số ít trong các viện bảo tàng hay bộ sưu tập của các nhà sưu tập tư nhân giàu có. Hiện nay, có một số tổ chức tại Nhật Bản đang kêu gọi những đầu tư và sự quan tâm của chính phủ cũng như các cá nhân tới việc phục chế những chiếc áo giáp tuyệt đẹp này .

Tìm Hiểu Katana

Photobucket

Tìm Hiểu Thêm Về Kiếm Nhật

Kiếm Nhật còn có tên gọi phổ thông khác là Katana hay Nihonto Katana thường được đeo bên hông cùng 1 thanh kiếm ngắn khác gọi là Wakizashi : Đoản kiếm .
Katana được sử dụng ngoài chiến trường, cho các trận đấu, hoặc để tạo dáng ...
Bộ Kiếm đã đi liền vào trong tiềm thức của các Samurai như một biểu tượng mang lại danh dự cũng như quyết định vận mệnh con ngừoi võ sĩ đạo . Thanh Wakizashi đeo bên hông thường xuyên ( kể cả khi ngủ cũng phải đặt bên mình ) sử dụng khi đánh nitou ( song kiếm ), tự vệ khi ở những nơi bình thường ( ở nhà chẳng hạn ) do sự thuận tiện về kích thước, Wakizashi rất hữu dụng trong những trường hợp đánh cực cận chiến, tập kata, hoặc Iaido ...
Ngoài ra còn 1 loại cơ bản nữa, đó chính là Tantou - là dao găm, thường dùng khi các Samurai Cái này dùng để mổ bụng tự sát, một nghi lễ của các Samurai khi thua trận, hoặc có chủ bị chết, họ sử dụng tantou để rạch 1 đường từ trái sang phải ...
Nhóm 1 : Độ dài khoãng 90 cm .
1.Nagamaki
2.No-Dachi
3.Odachi
4.Okatana
5.Jin Tachi

Nhóm 2 : Độ dài vào khoãng 71 - 90 cm .
1.Chokuto
2.Dōtanuki
3.Katana
4.Ninjato
5.Shin Gunto
6.Tachi
7.Tsurugi
8.Uchigatana

Nhóm 3 :Độ dài vào khoãng 55 - 66 cm .
1.Chisakatana
2.Kodachi
3.Shikomizue
4.Wakizashi
Ngoài ra các loại như : Hachiwara , Tanto ( Suguta Tanto ,Koshirae Tanto , Yoroi Toshi ... Thì độ dài không nhất định )

Ngoài ra kiếm dùng để tập luyện :
1.Bokken
2.Iaito
3.Shinai
4.Suburito
5.Tanren Bo

kiếm Nhật đựoc cấu thành từ hàng lớp thép, vừa dẻo dai vừa cứng rắn. Bí quyết truyền thống để chế tác một thanh kiếm Nhật hoàn hảo là ở nghệ thuật đắp thêm đất sét vào bên ngoài mẫu thép. Trước khi tôi luyện, họ phủ một lớp đất sét dày lên phần lưng gươm và phủ lớp mỏng trên kiếm Nhật đựoc cấu thành từ hàng lớp thép, vừa dẻo dai vừa cứng rắn. Bí quyết truyền thống để chế tác một thanh kiếm Nhật hoàn hảo là ở nghệ thuật đắp thêm đất sét vào bên ngoài mẫu thép. Trước khi tôi luyện, họ phủ một lớp đất sét dày lên phần lưng gươm và phủ lớp mỏng trên phần lưỡi cắt. Làm như vậy, phần lưng kiếm sẽ cứng vì có hàm lượng carbon cao, phần lưỡi sẽ rất sắc và đàn hồi tốt vì hàm lượng carbon ít. Công đoạn còn lại được làm bằng những con dao cứng cực sắc, làm bằng crom. Đôi khi người ta còn tạo những đường rãnh trên kiếm, để tiết kiệm thép nhưng độ cứng vẫn đựoc bảo toàn theo nguyên tắc vật lý, sau đó là tăng khả năng sát thương cho kiếm. Đây là một trong những đặc thù nổi bật của kiếm Nhật. Người Nhật cũng sử dụng phương pháp bao một lớp vỏ mềm bên ngoài để tạo nên những làn sóng trang điểm cho lưỡi kiếm. Khi đã định dạng đựoc thanh kiếm, một loại hợp chất gồm tro rơm và bùn đỏ sẽ đựoc trét lên mặt lưỡi kiếm, sau đó để khô. Người ta dùng 1 thanh bamboo để khắc hoa văn lên bùn đỏ, rồi để vào lò nung tiếp, rồi lại lấy ra, khắc theo mẫu lên lưỡi kiếm để đến khi chà láng những hình vẽ đó sẽ hiện ra. Giai đoạn này lưỡi kiếm được bao bằng đất và tro phải thật nóng. Lớp bùn đó chỗ dày chỗ mỏng, thường ở lưỡi kiếm mỏng nhất, các nơi khác dày hơn để khi nung, lưỡi kiếm sẽ cứng mềm khác nhau tuỳ theo từng khu vực. Lưỡi chém, phần cứng nhất của kiếm ( hamon ), có những hạt khác nhau gọi là nie và nioi. Nie ( nước sôi ) tượng trưng cho tinh thần hùng dũng, cứng cỏi, nioi ( hương thơm nhìn được ) tượng trưng cho sự cao thượng, quí phái. Những hạt này có được do sự gập đi gập lại và cũng là 1 dấu hiệu của môi trường vì mỗi phương pháp có những đường vân riêng. Nioi mắt thường không trông thấy, chỉ gợn lên như 1 làn sương mỏng, giải ngân hà 1 đêm sao. Hạt Nie thì to và thô hơn, trông lấm tấm như 1 chùm tinh tú. Những hoa văn đó được đặt tên, hoặc mây ( Kumo ), sóng biển ( Tsunami ), dãy núi ( Yama ), hoa ( Hana - Kikuichimoni ...). Kiếm tốt luôn đựoc đi kèm với vẻ đẹp của nó , đây đặc trưng của nền văn hóa đặc thù của Nhật Bản .

Theo Wikipedia - Soshu School, known for Itame hada and midareba .

Con Đường Trung Đạo - Sutemi (4)

Photobucket

Con Đường Trung Đạo - Sutemi (4)

Do ảnh hưởng của Thiền, kỹ xảo thuần thục của hắn biến thành tâm linh, và chính hắn – ngày càng trở thành tự do hơn nhờ sự phấn đấu tâm linh – biến đổi thành một người khác. Thanh kiếm – bây giờ trở thành “linh hồn” của kiếm sĩ – không còn nằm nhẹ tênh ở trong lớp vỏ nữa. Hắn chỉ rút nó ra trong trường hợp bất đắc dĩ. Vì thế, có những khi hắn tránh so gươm với một đối thủ không xứng đáng – một kẻ kiêu ngạo thích khoe khoang bắp thịt – hắn sẵn lòng mang tiếng hèn nhát với vẻ mặt tươi cười thản nhiên. Mặt khác, nếu hắn tôn kính đối phương, hắn sẽ đòi quyết chiến để kẻ địch được chết trong danh dự. Đây là những đặc tính của giới hiệp sĩ Samurai, kết tinh thành “võ sĩ đạo” vô song mà người Nhật gọi là Bushido. Bởi vì, cao hơn bất cứ điều gì khác, cao hơn danh tiếng, chiến thắng và ngay cả sanh mạng, là “cây kiếm của chân lý” – là cái dẫn đạo và phê phán hắn.

Kiếm sư và người sơ học đều vô úy không biết sợ; tuy nhiên, không giống như người sơ học, càng ngày kiếm sư càng không biết sợ. Nhiều năm thiền định không ngừng đã dạy hắn rằng trên cơ bản đời sống và cái chết là giống nhau và cùng thuộc một giai tầng. Hắn không còn sợ chuyện tử sanh nữa.
Hắn sống rất vui vẻ trên thế gian, nhưng bất cứ lúc nào hắn cũng sẵn sàng lìa khỏi thế gian mà không một chút bận tâm tới ý nghĩ về cái chết. Chẳng phải vô cớ mà giới hiệp sĩ Samurai đã chọn đóa hoa anh đào mong manh làm biểu tượng chân thực nhất của họ. Giống như một cánh hoa lìa khỏi cành trong ánh nắng ban mai và thanh thản bay xuống đất, người hiệp sĩ vô úy cũng sẽ lìa đời trong im lặng và trong sự bình thản của nội tâm.
Kẻ không sợ cái chết không có nghĩa rằng hắn tự nhủ – trong khi đang bình an vô sự – rằng hắn sẽ không run sợ khi đối diện với cái chết, và rằng chẳng có gì đáng sợ. Người nào đã làm chủ được cả đời sống lẫn cái chết thì không còn biết sợ bất cứ cái gì, thậm chí hắn không còn khả năng cảm thấy sợ hãi. Những ai không biết sức mạnh của công phu thiền định trường kỳ thì không thể biết khả năng tự khắc phục của nó lớn lao như thế nào. Một vị Đại Sư có công phu viên mãn lúc nào cũng lộ ra đức tính vô úy, chẳng những trong lời nói mà còn trong tất cả cung cách và phong độ: người ta chỉ cần nhìn vào ông là cũng đủ chịu ảnh hưởng thâm sâu rồi. Đức tính vô úy không lay chuyển như thế là đã tới tột đỉnh mà chỉ một số ít người đã rèn luyện được.

Theo Daisetz Teitara Suzuki, Zen Buddhism and its Influence on Japanese Culture, Kyoto: The Eastern Buddhism Society, 1938 .

Con Đường Trung Đạo - Sutemi(3)

 Photobucket

Con Đường Trung Đạo - Sutemi ( 3 )

Trong võ thuật, Budo, khái niệm về sự tự thoát thân là rất quan trọng.
"Sute" = Từ bỏ; "Mi" = thân thể


Như người họa sĩ vẽ tranh thủy mạc chỉ có thể đạt tới trình độ bậc sư khi tay của ông ta – hoàn toàn làm chủ những kỹ xảo, vẽ ra cái gì xuất hiện phía trước "tâm nhãn” của ông ta đúng vào lúc cái tâm bắt đầu hình thành nó, và không có một khoảng cách nào giữa hai điều này, dù chỉ bằng đường tơ kẻ tóc . Như vậy hội họa trở thành nghệ thuật viết chữ đẹp một cách tự phát tư nhiên. Ở đây lại có thể nói rằng lời dạy của họa sư là: Hãy trải qua mười năm quan sát những cây trúc , hãy chính mình trở thành một cây trúc, rồi quên hết mọi điều mà vẽ. Một người khi bắt đầu học kiếm thuật, bất luận hắn cường tráng, hiếu chiến, dũng cảm, vô úy... thế nào đi nữa, khi khởi sự học chẳng những hắn sẽ mất đi tự nhiên mà còn mất đi lòng tự tin . Người mới nhập môn phải học hỏi tất cả mọi kỹ thuật mà sinh mạng của hắn tùy thuộc vào, khi lâm chiến. Tuy rằng chẳng bao lâu sau, hắn có thể tập luyện sự tối đa, có thể tinh mắt theo dõi địch thủ, có thể đâm chém đỡ gạt đúng cách và hiệu quả...Nhưng thật ra hắn ở vào tình cảnh khó khăn hơn lúc còn chưa học kiếm thuật. Trước kia hắn nửa đùa cợt nửa nghiêm nghị tùy ý vung kiếm loạn xạ xung quanh mình, tùy theo cảm hứng đương thời, và thích thú sống trong tưởng tưởng như mình đang chiến đấu . Nhưng bây giờ hắn buộc lòng phải nhìn nhận rằng sinh mạng của mình đang nằm trong tay kẻ địch khỏe hơn, nhanh nhẹn hơn và đã luyện tập nhiều hơn ... Nên hắn cảm thấy không có con đường nào mở ra cho mình, ngoại trừ phải luyện tập không ngừng nghĩ . Vì vậy môn sinh mới học phải đặt hết khả năng của mình vào việc vượt qua những người khác và vượt qua cả chính mình . Hắn học được thêm những kỹ thuật giỏi, khiến hắn khôi phục lại được phần nào lòng tự tin đã mất, và cho rằng mình đang tiến càng ngày càng gần tới mục tiêu mong muốn . Tuy nhiên , Người môn sinh Samurai chỉ dựa vào lòng nhiệt thành và tài năng thiên phú không thể trở thành vị kiếm sư Samurai hay đạt tới cảnh giới của Bushido . Nhưng tại sao người kiếm sĩ Samurai đã từng luyện tập lâu dài để tự chế mình khỏi cơn nóng nảy trong khi đang chiến đấu và giữ bình tĩnh để bảo tồn sức lực . Người kiếm sĩ Samurai bây giờ cảm thấy mình đã có đầy kinh nghiệm đối với những trận chiến đấu dai dẳng và khó tìm thấy một đối thủ xứng đáng trong giới cùng trang lứa nhưng và tại sao, nếu lấy những tiêu chuẩn cao nhất đê đo lường, hắn thất bại ở giai đoạn cuối cùng và không thể tiến xa hơn nữa ? Vì hắn ta hắn luôn luôn trông cậy vào kỹ thuật và sự hiểu hiết của mình nên hắn mất đi " Sự hiện diện của tâm "
Trong Sutemi việc tự loại bỏ ý thức của chính mình , tự loại bỏ tinh thần , loại bỏ thị giác , không đối thủ , không vũ khí... Nguyên tắc của Bushido là huấn luyện để trở thành vô chấp , chẳng những đối với địch thủ mà còn đối với cả chính mình .


Bushido - The way of the Warrior - The Unfettered Mind