Saturday, August 21, 2010

Gốm đã được phú men

Từ trước đến nay các nhà sưu tầm nghiên cứu gốm cổ nước ta thường chỉ chú ý đến đồ gốm đã được phú men, không để tâm đến các loại gốm thô chưa được phủ men. Thực ra, gốm thô không những có ý nghĩa to lớn đối với việc nghiên cứu truyền thống gốm dân tộc, mà còn có giá trị nghệ thuật hấp dẫn các nhà sưu tầm cổ vật. Trên thế giới đã có không ít nhà sưu tầm cổ vật để mắt đến loại gốm thô chưa được phủ men này.
Đồ gốm ngày một tiến bộ, tuy vẫn nằm trong phạm vi của đồ gốm thô, độ nung chưa cao, nhưng vào khoảng 3.000- 4.000 năm trước, trong các nền văn hóa Tiền Đông Sơn cư dân nguyên thủy nước ta đã cho ra đời nhiều đồ gốm thô đẹp có thể nói là " không tiền khoáng hậu ". Đó là những chiếc bình gốm hình con tiện, miệng loe, bụng tròn, chân đế choãi rất hài hòa, những chiếc đĩa chân cao kiểu mâm bồng dáng rất hiện đại, những chiếc chậu miệng vuông, đáy tròn rất độc đáo, hoặc là những chiếc vò miệng loe, cổ cao, thân thon, đáy tròn dáng thanh thoát dễ nhìn, v.v. Đồ gốm lúc bấy giờ không những có kiểu dáng đa dạng độc đáo mà hoa văn trang trí thì muôn hình muôn vẻ, từ những đường chải đường vẽ đơn giản nguệch ngoạc đến những hoa văn khắc vạch kết hợp chấm giải những mô típ kiểu chữ A, chữ S, chữ X tạo thành những đồ án đối xứng phức tạp nhưng không rối rắm, vừa phóng khoáng vừa trang trọng, có nhịp điệu mà không đơn điệu, công thức mà không gò bó. Với trình độ thẩm mỹ cao lại có bàn tay khéo léo, những người thợ gốm lúc bấy giờ đã sáng tạo nên những sản phẩm vừa có giá trị thực dụng vừa có giá trị nghệ thuật cao rất đáng được lưu lại cho hậu thế thưởng ngoạn.
Trên ven biển miền Trung,cư dân nguyên thủy văn hóa Sa Huỳnh cũng làm ra những đồ gốm có kiểu dáng độc đáo, hoa văn phong phú cho đến nay vẫn nguyên giá trị nghệ thuật. Đó là những chiếc bình hình con tiện, những bát chân cao trang trí những đồ án hoa văn khắc vạch kết hợp tô màu đỏ thổ hoàng và ánh chì cân đối hài hòa, hay những chiếc chumhình trứng to có nắp cao dùng làm quan tài thể hiện trình độ kỹ thuật cũng như nghệ thuật của người thợ gốm lúc bấy giờ. Đồ gốm Sa Huỳnh được các nhà khảo cổ Đông Nam Á quan tâm từ mấy chục năm đầu thế kỷ cho đến tận bây giờ.
Đến giai đoạn văn hóa Đông Sơn, cùng với nghề luyện đúc đồng đạt đến đỉnh cao, nghề gốm cũng có những tiến bộ mới. Đồ gốm làm ra không những nhiều về số lượng mà kiểu loại cũng cực kỳ phong phú, bên cạnh các loại nồi, vò, bát, bình thường gặp còn có cả những loại ít gặp như chõ chẳng hạn. Đặc điểm của gốm văn hóa Đông Sơn là hoa văn đơn giản nghèo nàn, chủ yếu chỉ là văn thừng và văn khắc vạch đơn giản. Có thể lúc bấy giờ những giá trị nghệ thuật được dành cho đồ đồng, còn đồ gốm chỉ là đồ dùng hàng ngày, không đòi hỏi giá trị nghệ thuật. Tuy vậy, một số đồ gốm Đông Sơn tuy vẫn là gốm thô chưa được phủ men, hoa văn đơn giản, thậm chí không có hoa văn vẫn có sức hấp dẫn mạnh nhờ kiểu dáng phong phú mới lạ. Đó là những chiếc chậu, bát miệng loe rộng, thân vát, đáy nhỏ chân đế thấp choãi, những chiếc bình miệng loe, vai rộng, cong dẹt hoặc vai lượn, chân đế choãi thấp, trông rất ngộ nghĩnh.

văn hóa Việt, đấu tranh chống sự đồng hóa của văn hóa Hán trong 10 thế kỷ đầu Công nguyên, dòng gốm thô mang đậm đà bản sắc văn hóa dân tộc vẫn tiếp tục tồn tại phát triển. Đồng thời nghề gốm lúc bấy giờ cũng tiếp thu công nghệ chế tạo và phong cách của đồ gốm phương Bắc. Họ đã làm ra được những chiếc đỉnh ba chân, 2 tai, những chiếc bình 3 chân có cán cầm tay, những bát miệng loe hình đấu, cổ eo, bụng tròn kiểu con tiện, chân đế choãi phủ men trắng ngà, những vò miệng thấp, bụng tròn, đáy bằng, tráng men ngà hoặc không tráng men, invăn ô vuông có hoặc không các dấu vuông hoặc tròn đẹp mắt, những mô hình nhà, mô hình bếp, chuồng lợn, nhà kho, giếng nước, v.v. theo phong cách Hán; những chiếc bình miệng loe rộng hình đấu, có quai gắn giữa miệng và vai, vòi hình đầu gà theo phong cách thời Nam Bắc Triều; hay những chiếc vò thon cao, thành dày, miệng đứng, ở vai có nhiều núm ngang thô theo phong cách thời Tùy Đường, v.v. Những đồ gốm này cùng với gương đồng, tiền ngũ thù thường gặp nhiều trong các ngôi mộ gạch xây kiểu vòm cuốn mà nhân dân ta thường gọi là am để của của người Tàu. Đây là những đồ gốm tráng men sớm nhất ở nước ta. Những đồ gốm Việt Hán này ít được trang trí hoa văn, phần lớn tráng men, kiểu dáng quy chuẩn, một số như đỉnh, bình kiểu con tiện, bình 3 chân là phỏng theo đồ đồng cũng có sức hấp dẫn rất lớn.
Chính nhờ sức sống mãnh liệt và sức sáng tạo không ngừng, lại được sự cổ vũ bởi tinh thần dân tộc sau các chiến thắng chống quân xâm lược phương Bắc , những người thợ gốm thời Lý - Trần đã đưa kỹ thuật cũng như nghệ thuật sản xuất gốm lên một bước phát triển mới mà tiêu biểu là đồ gốm men ngọc và đồ gốm hoa nâu
Đồ gốm men ngọc và đồ gốm hoa nâu là đồ gốm cao cấp lúc bấy giờ phục vụ cho cuộc sống trong cung đình và tầng lớp qúy tộc. Còn tầng lớp bình dân thì chủ yếu là dùng đồ sành như lon, chậu, be, lọ, vò, hũ và các loại gốm không phủ men như nồi, chõ, chảo, v.v.
Gốm men ngọc phát triển mạnh vào thời Lý, tiếp tục tồn tại trong thời Trần, sang thời Lê chỉ tồn tại như là tàn dư trước sức cạnh tranh của gốm hoa lam rồi tàn lụi. Gốm men ngọc thường gặp là đĩa, bát, bình, liễn, ấm, v.v. dùng trong sinh hoạt hàng ngày, bát hoa sen nhiều tầng, tượng nhỏ dùng trong thờ cúng, trưng bày. Gốm men ngọc nước tathường có màu xanh lá cây, xanh nâu, xanh da trời đều có độ thủy tinh hóa cao nên men trong bóng, sờ vào mát tay, nhìn dịu mát khiến ta liên tưởng đến ngọc thạch.
Gốm men ngọc thường trang trí bằng phương pháp khắc chìm các loại hoa lá như hoa sen, hoa lá cúc, hoa phù dung với độ sâu nông khác nhau, lại được phủ men có độ trong bóng nên hoa văn trở nên lung linh uyển chuyển. Vì vậy, vẻ đẹp của gốm men ngọc là vẻ đẹp nồng nàn kín đáo, không phô trương. Trên đất Nam Định, tại Lộc Vượng đã phát hiện được mảnh gốm khắc chìm văn cánh sen phủ men ngọc, trôn có 4 chữ Hán "Thiên Trường phủ chế" cùng một số mảnh gốm vỡ và bao nung gốm cho thấy Nam Định cũng là nơi sản xuất gốm men ngọc.
Bên cạnh gốm men ngọc, gốm hoa nâu thời Lý - Trầncũng được đánh giá cao về nghệ thuật tạo dáng và nghệ thuật trang trí, mang đậm đà chất dân gian, rất Việt Nam .
Gốm hoa nâu là loại gốm tráng men màu trắng ngà, trang trí hoa văn nâu bằng phương pháp khắc chìm rồi bôi màu nâu lên hoa văn với độ đậm nhạt, sâu nông, dày mỏng khác nhau làm cho hoa văn trở nên sinh động.
Gốm hoa nâu ra đời từ thời Lý, phát triển mạnh lên đỉnh cao trong thời Trần, từ thế kỷ 11 đến thế kỷ 14, sau đó mai một dần.
Gốm hoa nâu từ chỗ làm ra những sản phẩm kích thước nhỏ, hoa văn trang trí hình hoa lá đơn giản tiến lên sản xuất những đồ kích thước lớn, hoa văn trang trí phức tạp cầu kỳ, nhưng loại hình và kiểu dáng vẫn giữ nguyên phong cách của gốm hoa nâu. Gốm hoa nâu có thân chắc khỏe, cân đối, thành gốm dày, hoa văn trang trí thường là cành hoa sen, hoa súng, hoa cúc, hoa thị, hoa chanh và hình động vật như cò, thước, công, cá, tôm. Thỉnh thoảng cũng gặp vài hình ảnh rồng hoặc lực sĩ đấu giáo.
Gốm hoa nâu thường gặp là chậu, bát, ấm, chén, vò, chum, nhưng phổ biến hơn cả là thạp và liễn. Có những chiếc thạp rất lớn, đường kính bụng lên tới 70cm. Thạp hoa nâu có nhiều kiểu dáng khác nhau, loại có nắp, loại không nắp, loại có chân đế, loại không, có loaị chân đế thường, có loại chân đế trổ lỗ thủng. Thường ở cổ và đáy có khắc nổi một hoặc hai lớp văn cánh sen.
Cũng thời này, bên cạnh và gần gũi với gốm hoa nâu, có một số lượng nhất định gốm nền nâu hoa trắng và loại gốm phủ men trắng ngà không hoa văn , mà sản phẩm chủ yếu là thạp.
Có thể nói gốm hoa nâu là một sản phẩm độc đáo của Việt Nam , không nơi nào có.
Thời Lý - Trần xây nhiều cung điện, đền, chùa tháp nguy nga lộng lẫy, nên các loại gạch ngói, các tượng rồng, phượng, vịt, uyên ương, lá đề với đủ các kiểu dáng kích cỡ bằng đất nung cũng rất độc đáo.
Sang thế kỷ 15, với cuộc kháng chiến chống quân xâm lược Minh thắng lợi, nhà Lê xây dựng một nhà nước phong kiến tập quyền vững mạnh dựa trên Nho giáo, thúc đẩy nền kinh tế phát triển, trong đó có nghề gốm. Do nhu cầu tiêu dùng trong nước cũng như đòi hỏi của thị trường nước ngoài cần nhiều sản phẩm gốm, nên khắp đất nước đã hình thành nhiều trung tâm gốm nổi tiếng có tính chất chuyên hóa. Sản xuất gốm hoa lam có Bát Tràng ở Hà Nội, Chu Đậu, Hợp Lễ, Làng Cậy ở Hải Dương. Sản xuất đồ sành có Hương Canh ở Vĩnh Phúc, Thổ Hà ở Bắc Ninh, Phù Lãng ở Bắc Giang, Lò Chum ở Thanh Hóa, v.v. Đây là chỉ kể những khu lò nổi tiếng ở miền Bắc thôi.
Gốm hoa lam có sức sống mãnh liệt, ra đời từ trước thế kỷ 15, tồn tại và phát triển mạnh suốt thời Lê Nguyễn cho mãi tận hôm nay và đã xuất khẩu đến nhiều nước trên thế giới.
Gốm hoa lam nguyên liệu được chọn lựa, sàng lọc kỹ độ nung cao hơn, đồ gốm thường mỏng hơn và dùng phương pháp ve lòng chống dính thay cho phương pháp con kê.
Hoa văn được thể hiện bằng cách dùng bút lông trực tiếp vẽ lên phôi gốm nên hoa văn sinh động gần với hội họa và thường trang trí gần khắp mặt gốm.
Đồ gốm hoa lam ngoài các đồ thường dùng như bát, đĩa, liễn, ấm, chén, lọ, bình rượu, v.v. còn có một số phục vụ cho việc thờ cúng như chân đèn, lư hương. Nhìn chung gốm hoa lam có xu hướng tạo dáng vươn caomà tiêu biểu là các loại bát chân cao, đĩa mâm bồng và bát chân cao trở thành hiện vật tiêu biểu cho gốm hoa lam thế kỷ 15. Đáng chú ý là một số sản phẩm gốm hoa lam thế kỷ 15 trôn thường tô son nâu. Gốm hoa lam sinh hoạt hàng ngày thường trang trí hoa lá sen, cúc, chanh, chim, cá, tôm. Còn các đồ thờ cúng thì kích thước to lớn, tạo dáng phức tạp, ảnh hưởng phong cách tiện gỗ, trang trí dày đặc các họa tiết cầu kỳ các hình long, ly, quy, phượng, mây lửa, mây dây, v.v. và thường kết hợp vẽ lam với đắp nổi. Tiêu biểu là các loại lư hương, bát hương, chân đèn.
Gốm hoa lam nổi tiếng hơn cả là gốm Chu Đậu. Thường gặp hơn cả là loại bát chân cao, đĩa to nhỏ các cỡ, có chiếc đường kính lên tới năm sáu chục phân, nậm rượu, chân đèn, lư hương đủ loại cao thấp, điêu khắc phức tạp, tráng men đậm nhạt khác nhau.
Gốm hoa lam phát triển rực rỡ trong 3 thế kỷ thời Lê sơ - Mạc đánh dấu một thời kỳ huy hoàng của lịch sử đồ gốm nước ta.
Từ sau thế kỷ 18 đến đầu thế kỷ 20, gốm hoa lam bước sang một giai đoạn khác. Đồ gốm lúc này kiểu dáng đơn giản, nặng nề, hoa văn kém phong phú, màu men nhợt nhạt. Một số bắt chước đồ sứ Thanh Trung Quốc thường trang trí tủn mủn, rậm rạp có phần phô trương.
Tuy vậy, do tiếp thu được một số kỹ thuật mới cùng phong cách đồ sứ nhà Thanh, một số trung tâm gốm như Bát Tràng đã có những tìm tòisáng tạo được một số sản phẩm có giá trị như những chiếc lọ lộc bình kích thước tương đối lớn, cao trên dưới 0.80cm phủ men rạn trắng ngà, đắp nổi cảnh chim công chim trĩ đậu trên cành đào, phù dung cho đến nay vẫn là niềm mơ ước của các nhà sưu tầm cổ vật nước ta.
Một hiện tượng cũng khá đặc biệt là trong thời Nguyễn, các vị Vua muốn có đồ sứ đẹp dùng trong triều đình, đã đặt hàng cho các lò sứ Trung Quốc sản xuất các đồ sứ hoa lam trang trí các đồ án hoa văn theo phong cách Việt Nam. Những đồ sứ này dưới đáy thường có ghi hai chữ Hán "Nội Phủ" và trên mặt thường viết những bài thơ của Vua hoặc của các nhà thơ nổi tiếng như Nguyễn Du. Loại đồ sứ này thường được gọi là "đồ ký kiểu" hay "Lam Huế".
Như vậy là từ những đồ gốm thô trang trí những băng hoa văn khắc vạch chấm giải thành những đồ án đối xứng đẹp mắt trên những bát chân cao, đĩa mâm bồng thời văn hóa Phùng Nguyên qua những đồ gốm tráng men hoặc in ô vuông của đồ gốm Việt Hán đến những đồ gốm men ngọc lung linh quý phái hay những thạp, chum, vò, liễn chắc khỏe trang trí hoa nâu thời Lý - Trần, để cuối cùng cho ra đời loại gốm hoa lam phong phútrong các trung tâm mà tiêu biểu là Chu Đậu, Bát Tràng và các loại đồ sành có men và không men trong các lò Hương Canh, Phù Lãngtrong suốt 5 thế kỷ thời Lê Nguyễn.

Friday, July 30, 2010

Ngọc

Ngọc Jadeite: độ cứng 6,5-7 Mors, ký hiệu hóa học: [Na(Al,Fe3+)Si2O6] được thành tạo cách đây 150 triệu năm ở độ sâu dưới lòng đất 65km, là khoáng vật có lý lịch cực kỳ hiếm có (thuộc loại quý hiếm).
Ngọc Nephrite: độ cứng 5,5 - 6 Mors, ký hiệu hóa học: [Ca2(Mg,Fe2+)5(Si8O22)(OH,F)2, được thành tạo cách đây 100 triệu năm ở độ sâu dưới lòng đất 10km, nhiều nước có và dễ tìm thấy (không thuộc loại quý hiếm).
Ngọc Serpentine: độ cứng 5 - 5,5 Mors, được thành tạo cách đây 100 triệu năm ở độ sâu dưới lòng đất 5km (không thuộc loại quý hiếm).

Wednesday, July 21, 2010

Về vụ vua Quang Trung băng hà

Photobucket


Theo Bắc Cung hoàng hậu (Công chúa Ngọc Hân) trong bài Ai tư vãn khóc vua Quang Trung có đoạn:

Từ nắng hạ mùa thu trái tiết,
Xót mình rỗng mỏi mệt chẳng yên.
Xiết bao kinh sợ lo phiền,
Miếu thần đã đảo, thuốc tiên lại cầu.
Khắp mọi chốn đâu đâu tìm được .... 



Trong tháng 5-1792, thành Gia Định đã nhốn nháo vì tin quân Tây Sơn sắp tràn vào trong một toan tính to lớn đánh hai mặt: đường bộ theo từ trên Lào xuống Miên để đánh mặt sau ; đường thuỷ thì theo vào Côn Lôn đánh từ Hậu Giang đánh lên để chận tuyệt đường rút lui của Nguyễn ánh , khỏi lo hậu hoạn như gần hai mươi năm trước. Tháng 8 năm đó có hịch truyền của  Nguyễn Huệ loan báo cho dân hai phủ Quảng Ngãi , Quy Nhơn chuẩn bị đón quân ở Phú Xuân để chinh nam. Nguyễn ánh nghe báo lực lượng đó là hai , ba mươi vạn quân.??? Người ngoại quốc thì thấy ở Phú Xuân có đến ba mươi ngàn quân tập luyện hàng ngày (tài liệu của giáo sĩ La Mothe - Trong cuốn Lịch sử giáo hội Công Giáo của Linh Mục Bùi Đức Sinh (Tập II, trang 338) - La Mothe được phong lên giám mục năm 1796, làm phụ tá cho giám mục Labartte, giám mục Đàng Trong. ) . Tất nhiên theo đà chiến thắng liên tục của những ông vua mở nước, vua  Quang Trung không ngồi trong cung để nghe những tin báo cáo từ chiến trường gởi về . Thế mà tháng Quang Trung chết (16-9-1792) là 29 tháng 7 (thiếu) âm lịch, mùa gió (tây) Nam tháng 6 tháng 7 (âm lịch) nóng, nắng to: " Nắng tháng tám nám lá bưởi ",  vua phải còn lo việc luyện quân, phải bệnh nặng bất ngờ không chữa được , nguyên nhân không phải cần là do thầy thuốc danh tiếng mới biết. Nhà sử học Ch. Borri đã biết về cái nóng và gió vào mùa này, cái nóng làm chết ông trấn thủ đỡ đầu linh mục ở Quy Nhơn, ông trấn thủ chỉ mải mê đi săn trong một ngày với cơn sốt mê man và từ đó dẫn đến cái chết chỉ trong một tuần ! Cho nên chuyện Quang Trung kể với quan ngự y Trần Văn Kỷ về việc bị một " liệt thánh" là một ông già chít khăn đỏ tay cầm gậy sắt đánh vào đầu mà từ đó sinh bệnh.... Đây là câu chuyện có phần hư cấu sau này nhà Nguyễn viết thêm trong Đại Nam liệt truyện (Quyển 30) để cũng cố cái chuyện cơ trời của nhà Nguyễn tạo dựng lên chuyện để cũng cố cái vận thành công của nhà Nguyễn đã được " Thiên Cơ " ấn định từ trước. Còn chuyện vua Quang Trung bị đánh gậy lên đầu ngất đi cũng chỉ là chuyện mê sảng của của người đang trong thời kỳ mang căn bệnh nặng. Không cần phải là người bài bác "mê tín dị đoan" mới hiểu được... Đây cũng là cần phải lưu ý về sự tâng công hay lấy công chuột tội nhảy qua nhảy lại của ông Trần Văn Kỷ qua các triều đại của ông đã từng phục vụ ngày xưa...

Núi và Thác

Photobucket


Dòng nước xiết thu mình uốn éo qua các trũng, vực méo mó để buông mình vào không khí tạo thành âm thanh xì xầm.

Có lần núi đá hỏi thác:
- Ngươi chảy qua thân ta đã nhiều niên kỷ, nhưng sao chưa lần nào ngươi lên tiếng?
Thác nhẹ nhàng:
- Ta với ngươi đều là con của tạo hóa, tại sao cần phải lên tiếng? Và ta đã chảy qua thân ngươi từ lâu lắm rồi, ta cần nói gì với ngươi?
Núi buồn bã:
- Ta sừng sững giữa trời mấy ngàn năm vẫn chưa gặp kẻ được tương đồng.
Thác hỏi:
- Thế người nào mới đáng là tri kỷ của ngươi?
Núi cười lớn vang vọng không trung:
- Cao, mạnh, lì lợm như ta.
Thác phân vân:
- Thế chỉ có ngươi là cao và mạnh thôi sao?
Núi đáp:
- Hãy nhìn xem, trên trần gian này loài người chiêm ngưỡng ta, xem sự hùng vĩ của ta như ý chí để vượt qua khắc nghiệt cuộc đời. Biết bao thi sĩ, họa sĩ, nhạc sĩ dùng ta làm đề tài nghệ thuật. Ngay cả thiền sư, triết gia cũng mượn ta làm nơi trú ẩn. Ta là biểu tượng của sức mạnh, và cả ngươi cũng chảy qua thân ta mà hình thành.
Thác tung cao lên chót vót đỉnh núi, đáp:
- Ta đâu khác ngươi. Ta cũng là đề tài của văn học và thi ca, của hội họa và nhiếp ảnh. Thiền sư, triết gia cũng từng mượn hình ảnh ta để giảng dạy. Ta là biểu tượng của đạo. Nếu có khác là ta di động, còn ngươi đứng một chỗ. Ta phiêu lưu nhiều hơn ngươi. Ta đã đi qua rất nhiều nơi, chẳng ai theo kịp ta cả, nhưng ta vẫn hiện diện ở đây hàng giây để leo qua thân ngươi.
Đối với núi, dường như “kỷ nguyên mấy lượt trơ không, vẫn mình” đã có câu giải đáp. Và rồi cả thác và núi đều không lên tiếng đàm luận nữa.

Thời gian và không gian ...

Photobucket

Charles Lamb viết: Không gì làm tôi bối rối bằng thời gian và không gian. Và cũng không có gì ít quấy rầy tôi hơn là thời gian và không gian, vì tôi không bao giờ nghĩ đến chúng.

Thời gian là khái niệm siêu hình, thật khó có thể vẽ hay diễn tả nó. Nhưng chúng ta cảm thấy một cách mạnh mẽ thời gian đang trôi qua, nhờ có ngày đêm. Nói cách khác, thời gian vừa tồn tại tự nhiên, vừa là một khái niệm gắn liền với thế giới con người trực tiếp cảm nhận nó. Tôi muốn nói đến một điều mà chắc tôi sẽ còn nhắc lại: sự tồn tại của vũ trụ cũng như thời gian chỉ có ý nghĩa khi có được những thực thể cảm nhận được nó.
Ngày nay ta biết rằng thời gian và không gian làm nên thế giới 4 chiều của chúng ta. Tuy thuyết tương đối ra đời đã lâu, nhưng những ấn tượng về thời gian tuyệt đối vẫn còn mạnh mẽ, và quả thật trong cuộc sống thường ngày thì người ta chỉ cần biết đến chuyện xem dồng hồ để biết giờ đi làm. Trước khi Einstein đưa ra bài báo của mình và lật đổ nhiều quan niệm cổ điển thì H.G.Wells đã biết rằng không gian và thời gian không thể tách rời được với nhau (The time machine). Mỗi người trong chúng ta có đồng hồ đo thời gian cho riêng mình, vậy thì ta sẽ sử dụng thời gian như thế nào? Vâng đúng thế, chúng ta sử dụng thời gian vào những mục đích của mình.
Thời gian chỉ có ý nghĩa khi vũ trụ ra đời khoảng 15 tỷ năm trước đây, và nó có thể có cuộc đời xác định: bắt đầu tại vụ nổ Big Bang, và kết thúc tại Big Crunch – khi vũ trụ co lại (nếu như nó co lại thật). Tuy nhiên, không-thời gian có thể kết thúc trong lỗ đen. Các lỗ đen cũng là chìa khóa cho việc du hành ngược thời gian, mà hi vọng tôi có thể sớm có một vài ý tưởng hay về nó. Wells cũng nói rằng chúng ta không thể thay đổi quá khứ. Nếu điều này là sự thật thì hơi buồn, nhưng nó sẽ tránh cho chúng ta nhiều rắc rối. Nhưng chúng ta luôn có thể thay đổi được tương lai, và đó là chìa khóa của vấn đề.
Thời gian là thế lực khủng khiếp mà con người chưa thể chinh phục. Nó trôi qua không ngừng nghỉ, và chẳng chờ đợi ai bao giờ. 100 năm tuổi thọ của con người, hình như là quá ít. Tôi còn nhớ câu thơ Pháp: “Thời gian ăn cuộc đời”. Thật đáng sợ nếu như vài chục năm sau ta giật mình nhận ra rằng mình chưa làm được điều gì có ích.
Mặt trời có tuổi thọ 10 tỷ năm, nhưng rồi mặt trời cũng sẽ bốc cháy cùng với hệ hành tinh của nó, trở thành sao lùn trắng và rồi chìm vào quên lãng, vì sự tồn tại của nó không còn có ích nữa. Tôi biết con người có nhiều tham vọng hơn thế, chúng muốn vượt xa tuổi thọ của mặt trời và đến lúc đó có lẽ con người sẽ thấu hiểu được vũ trụ.
Hãy nhớ câu chuyện của Edison: một hôm khi đi trên phố, ông chợt nhận ra thời gian đang trôi qua, và ông đã rảo bước đi nhanh hơn trên đường. Và bạn cũng không nên quên rằng Einstein đã nói cho chúng ta biết, nếu chúng ta chuyển động càng nhanh thì thời gian của chúng ta càng chậm hơn, và chúng ta sẽ có thêm thời gian để làm nhiều việc có ích (thật ra đó chỉ là chuyện hão huyền, nhưng điều tôi muốn nói là chúng ta không thể điều khiển thời gian, vì vậy hãy cố tiết kiệm thời gian cho mình).
Thời gian là vốn quý của mỗi người. Nó cũng là kẻ sẽ hủy diệt mọi thứ. Tuy nhiên chúng ta không quên câu nói của người Ai Cập: “Con người sợ thời gian, nhưng thời gian sợ các kim tự tháp”. Và ước mơ chinh phục thời gian vẫn là ước mơ muôn thuở của con người.

Con người ???

Photobucket

Tại sao lại có con người? Tại sao chúng ta tồn tại ở đây?


Nếu đó là câu hỏi bạn đặt cho tôi, thì có thể tôi sẽ trả lời rằng: Chúng ta tồn tại để có thể tự đặt những câu hỏi như thế. Thú thật tôi rất thích thú với nguyên lý vị nhân, nhưng có lẽ đó là một câu trả lời đúng. Khi đã có những câu hỏi như vậy, nghĩa là con người đã ý thức được rõ ràng về sự tồn tại của mình, có vũ trụ quan riêng biệt.
Tôi còn nhớ một đoạn phim trên Discovery Channel cổ động cho chương trình bảo vệ môi trường sống. Trong hàng ngàn, hàng vạn loài sinh vật trên trái đất, tại sao chỉ có con người có được ý thức và trí khôn - những điều đã khiến con người trở thành sinh vật mạnh nhất. Tại sao con người lại có mặt? Đơn giản là vì chỉ có con người mới có đủ khả năng để bảo vệ những sinh vật khác, bảo vệ ngôi nhà chung của muôn loài.


Con người là người bảo vệ, hay là kẻ phá hoại?
Có thể là cả hai. Đã từ lâu khi con người tự thiết lập trật tự xã hội cho riêng mình, họ cũng đã đi ngược lại với tự nhiên. Và rồi con người cũng sẽ rời bỏ cái nôi của mình, như xưa kia sinh vật đã từ dưới nước lên sống ở trên cạn.
Tôi không biết là từ bao giờ, nhưng con nguời là sinh vật thích nhìn ngắm bầu trời nhất, đặc biệt là bầu trời đêm. Trong hằng hà sa số những vì lấp lánh trên kia… chúng ta quá cô đơn trong vũ trụ. Trái đất và con người còn bé hơn những hạt cát trong vũ trụ bao la kia, nhưng dường như chúng ta là những thực thể duy nhất biết được những điều nhỏ nhặt về vũ trụ. Những bộ phim khoa học viễn tưởng có liên quan đến du hành vũ trụ hay người ngoài Trái đất luôn làm tôi thích thú. Thật đáng ngạc nhiên là con người có thể tự vẽ ra tương lai cho mình. Trí tưởng tượng của con người là thứ duy nhất không bị giới hạn tương đối của Einstein kìm hãm. Có lẽ chúng ta thực sự có được một vị trí đặc biệt trong vũ trụ. Phải chăng vũ trụ đã được xếp đặt dành cho con người – những kẻ nhỏ nhoi quan sát vũ trụ bằng đầu óc trống rỗng của mình?
Con người bị chi phối bởi những điều kiện xã hội do chính họ đặt ra. Những mắt xích trong đời sống, cả thế giới hùng vĩ. Văn hóa, nghệ thuật, khoa học… thế giới nhân tạo của con người rồi sẽ phong phú hơn cả thế giới tự nhiên?

ĐỜI TA CHỈ BÁI LẠY TRƯỚC HOA MAI !





Thập tải luân giao cầu cổ kiếm
Nhất sinh đê thủ bái hoa mai

Mười năm chu du tìm gươm báu
Đời ta chỉ cúi lạy hoa mai
Cao Bá Quát

Người xưa vẫn thường bảo rằng vạn vật hữu tình. Nếu không có tình thì có làm sao cứ mỗi năm, lá ngô đồng rụng một lần cho cây lên hoa. Và cứ nghe len lén gió xuân là mai lại trổ vàng. Tự nghìn năm trước, người xưa đã nói về hồn của hoa mai là hồn của một người con gái yêu kiều. Cái dáng mai gầy lung linh trong gió, từa tựa như dáng một thiếu nữ ngược gió đi qua cầu Trường Tiền.
Thân mỏng, nhẹ mà rắn rỏi vô cùng. Hút hết tinh lực của đất nhưng cương quyết không cúi mình, không lớn vội vàng, mà cứ se sắt lại. Ngay cả cái màu xám đen của thân cây cũng là một thái độ sống rất chi là can trường. Như rằng cây hoa mai đã nhặt trong những đêm mùa đông, lạnh lẽo từng hạt sương mai mặn nồng để nuôi lớn một màu da. Dù bao nhiêu tuổi, cây hoa mai vẫn có một vóc dáng trẻ trung. Từng nhánh như cánh tay người đâm thẳng lên trời, đi qua bốn mùa mà nhẹ thênh như mưa dải nắng dầu chỉ là chút dâu bể không làm ngả lòng như quân tử.
 
Hồn của hoa mai trước hết là ở chữ tín. Chưa từng ai biết kiên nhẫn như hoa mai. Ðợi trong trời đất suốt suốt hai mươi bốn tiết, ba trăm sáu mươi lăm ngày chỉ để ngày đầu tiên của năm mới, nở cho đời một đoá vô thường. Không một lời hẹn nguyền mà đúng như chân tâm phát nguyện. Hoa nở để xác tín với đời về giá trị vĩnh cửu của sự sống. Nó luân chuyển trong đất đai, phập phồng sinh sôi trong từng mầm cây, để nở bùng lên như một ngọn lửa tê mê lòng. Mai còn là loài hoa có nghĩa, bởi biết trả cho đất cái đẹp của ơn hoài sinh, một cái đẹp lê phụ như những ngôi sao băng làm rạng rỡ bầu trời. Mùa xuân ở Huế thường có nhiều sa mù, cánh hoa vàng trong sương bãng lãng như những giọt nắng rơi từ trời cao xuống lòng phố nhoè những chấm vàng lung linh. Cái duyên ngầm của hoa mai có lẽ là ở chỗ biết diễn đạt lòng người. Hoa mai hiểu càn khôn, như con người hiểu lòng bàn tay mình. Ngày xuân nhìn hoa nở e ấp, lòng cứ ngờ ngợ như ai đó đang đi lại nói cười. E lệ nép vào dưới hoa là ngại ngần một tình yêu ban đầu. Gần như là chỉ có sự yên lặng vĩnh cửu mới diễn đạt đến tận cùng đời sống nội tâm dữ dội của hoa. Trăm năm nỗi thống khổ gởi gắm trong một sắc vàng mênh mông, chính vì vậy mà hoa mai được người đời mệnh cho là quân tử hoa.
Từng cánh hoa rơi vàng trong gió nhẹ, nghe như một hơi thở dài trên những bến vắng um tùm lau sậy mọc . Tôi vẫn hằng nghĩ màu vàng của hoa mai là màu vàng của hoài niệm. Sắc hoa ấy như chưa bao giờ phai nhạt mà theo thời gian cứ mãi vàng lên như một bóng nắng huyền hoặc di chuyển mãi tận phía sa mù. Trong giấc mơ ngày nọ của một cậu học trò , tôi bỗng thấy mình đi lạc giữa ngàn mai hoa. Bước chân mê mải dặm xanh giữa trùng trùng điệp điệp rồi tựa vào thân cây mai đánh giấc ngủ say ... Ở Huế có nhiều cội mai đã sống đến hàng trăm tuổi. Thân mai xanh một màu rêu đá. Cuối đông chỉ còn trơ những cánh tay gầy guộc. Tưởng chừng như hồn mai đã ra đi bỏ chút hơi tàn rơi lại trên vài đọt lá . ẤY thế mà chỉ một đêm dịu nhẹ gió xuân, sáng mai đã thấy hoa nở đầy trên những thân như một phép lạ của tâm hồn. Và năm nào cũng vậy, cứ vào độ tháng Chạp, nhiều người Huế bâng khuâng đi tìm mai. Bước chân của những chàng Lưu Nguyễn thời hiện đại cứ ngại ngần trên những dặm hoa mênh mông thôn Vỹ Dạ . Rồi lục tục từ ngàn ngọn núi xa, mai như người kéo nhau về dưới phố, nhuộm vàng cả một bến Hương chừ đã vắng sương mù. Cõng mai về phố có nhỏ nhoi một dáng mẹ già. Ðôi tay mẹ gầy những sương mai. Có chỏm tóc lục y nâu chàm của những chú tiểu, phong phanh một chiếc áo mỏng che chở cho những nhành mai cổ tự mà thân đã rêu mờ...
Có một ngày cuối năm đầy hương sắc, tôi đã tìm những đoá hoa mai mà lòng như lạc vào cõi chiêm bao. Dọc một bến sông vàng những hồn mai mộng mị. Có tiếng hát nào xa xôi lắm chợt ngân vang trong cõi sương mù "Mẹ ơi, hoa cúc hoa mai nở vàng rồi..."

Gió

Photobucket


Là gió
Bất chợt đến rồi đi
Ào ạt, thầm thì
Trãi lòng muôn dặm lý

Lan

Photobucket

Lan

Sáng kiêu sa
Tối ngải tà
Tàn cơn gió bụi
Bay qua .