Tuesday, May 4, 2010

Ấn Triện

Ấn chương 印章 (con dấu, con triện) là một nét văn hóa rất độc đáo của Trung Quốc. Khắc ấn là một nghệ thuật, nghiên cứu và giám định ấn là một môn học hẳn hoi. Ấn có thể bằng vàng, đá quý, ngà, xương. Ấn dùng trong công văn giấy tờ đã đành, nhưng ấn có thể kết hợp với thư 書 (thư pháp) và họa 畫 (tranh thủy mặc), chúng bổ túc nhau mà tương hỗ tương thành 相互相成. Một bức họa có thư pháp và một hoặc nhiều ấn chương trở thành một chỉnh thể gọi là «kim thạch thư họa cộng nhất thể» 石書畫共一體 (ấn triện bằng đá hay vàng, thư pháp, hội họa hợp nhất thành một thể).
Ấn vàng của Hán Văn Đế. Ấn văn là:
Văn Đế hành tỷ 文帝行
Ấn ngọc đời Tây Hán. Ấn văn là:
Hoàng hậu chi tỷ
皇后之璽
Trong sinh hoạt hàng ngày, người Trung Quốc phân biệt hai loại ấn chương: công và tư. Ngoài ra tư ấn còn có danh chương 名章 (khắc tên, biệt hiệu tác giả) và nhàn chương 閑章 (có nội dung đa dạng). Chúng có hình vuông, tròn, chữ nhật, bầu dục, đa giác.
Ấn chương là một yếu tố quan trọng của một bức thư pháp hay một bức họa. Đặt đúng vị trí, ấn chương tôn thêm giá trị của tác phẩm; ngược lại, sẽ làm hỏng nó. Nghiên cứu kỹ ấn chương, người ta có thể giám định một bức thư họa là chính bản hay ngụy tạo.
âm văn 陰文 (bạch văn 白文):
chữ trắng trên nền đỏ.
Nguyên tắc khắc ấn triện là khắc chìm hoặc khắc nổi. Khắc chìm, ấn chương khi in ra có nét chữ trắng (gọi là âm văn 陰文, bạch văn 白文) trên nền đỏ. Khắc nổi, ấn chương khi in ra có nét chữ đỏ (gọi là dương văn 陽文, chu văn 朱文) trên nền trắng. Nói chung, thời Tiên Tần ấn triện chủ yếu là âm văn (tức là khắc chìm). Vật liệu làm ấn triện thay đổi khác nhau. Từ thời Tần-Hán, vật liệu làm ấn thay đổi nhiều về ngoại hình ấn triện lẫn chữ khắc bên trong. Thời Nam Tống-Bắc Tống, khắc ấn thêm phát triển vì nhiều thư pháp gia và họa gia kiêm luôn nghề kim hoàn (để đúc ấn bằng kim loại quí) hoặc nghề làm đá (để làm ấn bằng đá quí). Do đó mà có kim ấn, thạch ấn, ngọc ấn.
dương văn 陽文 (chu văn 朱文):
chữ đỏ trên nền trắng.
Các cách đúc ấn vàng thời Tống-Nguyên đã lạc hậu. Thời Minh-Thanh ngọc ấn rất đa dạng. Những ấn bằng đá quí như kê huyết, điền hoàng hoặc các loại đá phổ thông như thọ sơn thạch (của huyện Thọ Sơn tỉnh Phúc Kiến), thanh điền thạch (của huyện Thanh Điền tỉnh Chiết Giang) v.v. đều là văn phòng chi bảo. Vật liệu khắc ấn cũng có thể là thủy tinh thạch, ngọc thạch, ngà voi, xương thú, sừng trâu, hồng mộc. Ngày nay cũng có người dùng êbônic hoặc gốm sứ làm ấn. Do bảo vệ môi sinh, người ta có lẽ sẽ dùng một chất nhân tạo tổng hợp nào đó để làm ấn.
Mỗi thư họa gia có không ít ấn chương, như Tề Bạch Thạch cả chục biệt hiệu nên số ấn chương cũng nhiều chẳng kém. Bản thân ông cũng làm nghề khắc ấn mưu sinh, nên có nhiều ấn cũng không lạ. Bát Đại Sơn Nhân có khoảng 30 ấn, phân làm danh chương và nhàn chương (như đã nói trên). Nhàn chương phản ảnh tư tưởng và tâm trạng tác giả trong một giai đoạn đặc biệt nào đó trong đời ông ta. ấn văn (nội dung của ấn) có thể là một danh ngôn, hoặc do tác giả đặt ra để bày tỏ nỗi lòng hay ý chí. Chuyên gia về ấn có thể xác định ấn được khắc vào khoảng thời gian nào trong cuộc đời tác giả. Chuyên gia Chu Sĩ Tâm (HongKong) đã bỏ công nghiên cứu khoảng 30 ấn chương của Bát Đại Sơn Nhân và phân tích tỉ mỉ ấn văn của từng con ấn, thật là kỳ công. Thí dụ, có một ấn của Bát Đại Sơn Nhân mà ấn văn chỉ có một chữ 驢 (con lừa). Bấy nhiêu đó cũng đủ hiểu tâm trạng của đại thư họa gia này. Bát Đại Sơn Nhân mang tâm trạng u uất của một di thần nhà Minh khi Nhà Thanh thành lập. Ông trở nên điên loạn, khi làm tăng khi làm đạo sĩ, nét bút cuồng phóng, cho nên lấy chữ lư là mượn ý của Trần Đinh Sơn Nhân: «Ta nay là thày chùa rồi, sợ gì mà không lấy biệt hiệu là Sơn Lư 山驢 (lừa núi).» Do đó bức tranh hay thư pháp nào của Bát Đại Sơn Nhân có ấn văn 驢 thì nó đã được sáng tác từ lúc ông đi tu vậy.
Các ấn chương chằng chịt trên một bức tranh cổ chứng tỏ tác phẩm đã qua tay rất nhiều đời chủ.
Trên đây là một thí dụ nhỏ. Kỳ thực, mỗi thư họa gia cố tự tạo ấn triện của mình có bản sắc riêng, khi đóng lên tác phẩm, coi như là «chứng thực chính bản» của tác giả. Việc giảo nghiệm một tác phẩm thư họa Trung Quốc trở nên khó khăn là thế. Ngoài việc xem xét chất liệu vải, lụa, hay giấy, người ta còn xem bút pháp, chữ ký cùng với tính cách của ấn chương nữa. Sự khó khăn càng tăng vì số ấn chương của một tác giả có thể rất nhiều và người ta không rõ hết nội dung của chúng (ấn văn). Ngoài ra người chủ mua bức thư họa về có quyền đóng lên đó ấn chương của riêng mình. Qua một đời chủ là tác phẩm mang thêm một hai ấn chương. Đó là lý do ta thấy tác phẩm thư họa cổ thường có nhiều ấn chương chằng chịt.
Trên đây là những điều hết sức cơ bản về ấn chương. Ta cần nhớ mấy điểm chính về các loại ấn chương như sau:
1/ Nhàn chương 閑章:cũng gọi dẫn thủ chương引首章 (vì đóng ở đầu tác phẩm) hoặc tùy hình chương 隨形章 (vì tùy theo hình dạng có sẵn của cục đá mà khắc ấn). Gọi là nhàn thực tế chẳng nhàn chút nào. Thí dụ, đi mừng một đám cưới, ta tặng một tấm hoành phúc (tức hoành phi) với đại tự «Mỹ ý diên niên» 美意延年 nhưng nội dung nhàn chương là «khổ trung lạc» 苦中樂 (sướng trong cảnh khổ) thì khác nào tát nước vào cô dâu chú rể. Nội dung nhàn chương phải phù hợp nội dung tác phẩm. Nói chung, khi đem tác phẩm mừng tặng ai, nhàn chương với nội dung «như ý cát tường» 如意吉祥 là an toàn và bảo đảm nhất. Trong số nhàn chương cũng phân ra mấy loại:
a- Niên hiệu chương 年號章: Ghi giáp tý 甲子, ất sửu 乙丑, bính dần 丙寅, nhất cửu cửu bát niên 一九九八年, v.v.
b- Nguyệt hiệu chương 月號章: Ghi tên tháng như hoà nguyệt 和月, cốc vũ 谷雨, thịnh hạ 盛夏, v.v.
c- Trai hiệu chương 齋號章: Ghi tên hiệu của thư trai 書齋 (phòng đọc sách) của ta như Mặc Nhân Cư 默人居, Thụy Đức Thảo Đường 瑞德草堂, Tích Tự Các 積字閣, v.v.
d- Nhã thú chương 雅趣章: Nội dung loại này rất đa dạng, ghi nỗi lòng, hoài bão, ý chí, danh ngôn, phương châm v.v. Thí dụ: Lạc nhi khang 樂而康 (vui vẻ mạnh khoẻ), khổ trung lạc 苦中樂 (sướng trong cảnh khổ), thiên địa tâm 天地心 (lòng trời đất), mặc thú 墨趣 hay mặc lạc 墨樂 (thú vui thư pháp), thần công 神功, cần phấn 勤奮 (siêng năng cố gắng), khổ công 苦功 (công phu khổ luyện), trị học 治學 (chuyên học), tửu trung tiên 酒中仙 (tiên trong rượu), thanh thú 清趣 (thú vui thanh nhã), sư cổ bất nệ 師古不泥 (noi theo xưa mà không câu nệ), thư đức 書德 (đức viết chữ), tinh cần 靜勤 (tinh chuyên và cần mẫn), phúc thọ 福壽 , mặc hương 墨香 (hương thơm của mực), quan viễn 觀遠 (nhìn xa), v.v.
2/ Yêu chương 腰章: Đối với một bức trung đường (trực phúc, tức là tấm hình chữ nhật đứng, kiểu portrait) mà quá dài, dù có đóng dẫn thủ chương rồi thì vẫn cảm thấy trống trải. Ở ngang thắt lưng tác phẩm ta đóng thêm một ấn. Ấn chương đóng ở ngang lưng bức thư pháp gọi là yêu chương [yêu 腰: eo thắt ngang lưng]. Yêu chương phải nhỏ hơn nhàn chương và danh chương, có thể hình chữ nhật, vuông, hoặc tròn.
3/ Danh chương 名章: Ấn chương khắc tên hoặc tự hiệu của tác giả, đóng dưới hạ khoản. Có thể đóng hai ấn chương nội dung khác nhau, nhưng tốt nhất là một ấn bạch văn và một ấn chu văn. Thí dụ, ấn văn có thể là: Lê ấn 黎印, Anh Minh ấn 英明印, Anh Minh chi ấn 英明之印, Lê Anh Minh ấn 黎英明印. Các chữ này khi đã in trên giấy phải theo thứ tự ngược chiều kim đồng hồ thì mới đúng qui cách.

Vietsciences- Lê Anh Minh

XÁC ĐỊNH NIÊN ĐẠI CỔ VẬT BẰNG CÁCH ĐO PHÓNG XẠ ĐỒNG VỊ CARBON 14

Có 1 sự hiểu lầm rất lớn về phóng xạ đồng vị C14 ngay cả đối với nhiều người sưu tập cổ vật hoặc dân chơi cổ ngoạn. Người ta cứ nghĩ đơn giản là muốn biết tuổi cổ vật một cách chính xác chỉ cần "thử C14" là xong.
Thực ra phương pháp đo phóng xạ đồng vị C14 chỉ áp dụng cho các cổ vật có nguồn gốc hữu cơ hay nói khác đi các sinh vật mà thôi, không thể dùng phương pháp này trực tiếp cho các cổ vật không có sự sống như vàng, bạc, đồng, sắt, đá, gốm, sứ, … đơn giản là vì chúng không có C14 không bền, chỉ có C12 vững bền mà thôi. Cùng lắm chỉ gián tiếp dùng phương pháp này đo "xác" thực vật nằm chung với những đồ vật trên trong cùng một tầng văn hóa mà thôi.
Chẳng hạn năm 1924, L. Pajot, một viên chức thuế quan và cũng là nhà sưu tầm cổ vật đã phát hiện di chỉ văn hóa Đông Sơn tại xã Đông sơn thuộc vùng sông Mã tỉnh Thanh Hóa. Ban đầu người ta chưa gọi là văn hóa Đông Sơn, bản báo cáo của ông V. Galoubew, một tác giả người Pháp thuộc trường Viễn Đông Bác Cổ, gọi là văn hóa thuộc "thời đại Đồng Thau ở Bắc kỳ và Trung kỳ".
Mãi tới năm 1934, lần đầu tiên thuật ngữ "Văn Hóa Đông Sơn" được sử dụng do nhà khảo cổ học người Áo tên là R. Heine Geldern. Các cuộc khai quật, khảo cứu từ 1924 đến nay đã phát hiện có khoảng 500 di tích thuộc nền văn hóa Đông Sơn trên cả nước Việt Nam từ biên giới Trung Quốc ở phía Bắc, biên giới Lào ở phía Tây và vùng Quảng Bình ở phía Nam. Các nhà khảo cổ cũng xác định được chủ nhân của nền văn hóa này là cư dân người Việt cổ. Kết quả xét nghiệm trên các mẫu tro than lấy từ tầng địa chất Đông Sơn sâu nhất, nơi phát hiện những hiện vật bằng đồng thau, ở khu Đồi Đà và chùa Thông, địa diểm tiêu biểu của vùng lúa nước sông Hồng, cho thấy số liệu sau đây : 2704 – 90 (ZK 305) và 2655 – 90 (ZK 309), như vậy người ta có thể xác định được nền văn hóa Đông Sơn bắt đầu từ thế kỷ VIII trước Công nguyên đến thế kỷ I sau Công nguyên – vài nơi khác kéo dài muộn hơn tới thế kỷ II hoặc III sau Công nguyên.
Sở dĩ phải thử than tro nằm chung với đồ đồng Đông Sơn vì đồ đồng không có C14, chỉ than tro từ gốc thực vật mới có. Tại sao thực vật lại có Carbon 14 ? Hạt Nơtron của tia vũ trụ khi tác dụng với nguyên tử Nitơ có đồng vị 14N thì tạo thành 14C không bền. Lượng Carbon 14 (14C) tồn tại cách tự nhiên với tỷ lệ thấp trong Dioxít Carbon (CO2) của không khí mà thực vật hấp thụ để định hình các nguyển tử Carbon mà tạo ra lá, rễ, cành … cây cối do đó có chứa C14 với tỷ lệ thấp như CO2 trong không khí, nhờ hiện tượng quang hợp mà cây cối hấp thụ CO2 có trong khí quyển để sinh trưởng. Trong khí CO2 có 1 phần rất nhỏ 14CO2 (cứ 1 triệu phân tử CO2 chứa Carbon bền thì có 1 phân tử CO2 chứa đồng vị không bền C14) vì phản ứng tạo thành C14 trong khí quyển là liên tục cho nên khi cây cối còn sống hàm lượng của C14 trong đó coi như không đổi.
Khi các động vật ăn cỏ cây thì cũng thu nạp được lượng C14 trong thảo mộc. Loài người hay loài vật ăn thịt như hổ, báo … ăn thịt những con vật ăn cỏ cây cũng thu nạp được lượng C14.
Khi động vật hoặc thực vật chết đi thì việc cung ứng C14 sẽ ngưng lại. C14 vốn không ổn định (khác với C12 vốn ổn định) sẽ từ từ phân rã theo chu kỳ bán hủy T : 5570 năm).
Quá trình xác định tuổi cổ vật dựa trên quá trình phân rã C14 được thực hành như sau : Đo lượng C14 còn lại trong các cổ vật gốc sinh vật (xương, trầm tích, hóa thạch, than tro … rồi đo lượng C14 của vật sống cùng họ đương đại. So sánh 2 bên, rút ra cố C14 chênh lệch, từ đó tính ra tuổi của cổ vật vì chu kỳ bán hủy của C14 là 5570 năm, nghĩa là cứ sau 5570 năm thì lượng C14 trong cổ vật gốc sinh vật mất đi một nửa so với lúc ban đầu. Căn cứ vào các số đó nên các nhà chuyên môn không khó gì tìm ra tuổi của cổ vật. Phương pháp này có mức chênh lệch khoảng từ 50 – 200 năm.
Ví dụ muốn xác định tuổi của một quan tài cổ, người ta lấy một miếng gỗ trên, đo C14, rồi lấy 1 miếng gỗ bằng cỡ đó, cùng loại gỗ nhưng còn mới nguyên đo C14. So sánh 2 số liệu đó để biết C14 trong miếng gỗ áo quan đã mất đi bao nhiêu, còn lại bao nhiêu, giải bài toán phương trình vi phân đơn giản, các nhà chuyên môn biết ngay niên đại của ngôi mộ.
Vấn đề đặt ra cho các nhà sưu tập hoặc chơi cổ ngoạn là máy móc rất đắt, chuyên viên cực hiếm, lại chỉ xác định được những cổ vật có nguồn gốc sinh vật mà thôi, nên hiện tại chẳng ai dám mơ tới. Quả thật nghề chơi cũng lắm công phu !

Viết theo các tư liệu Cổ Vật Tinh Hoa số 30, trang 6-7, bài của Nguyễn Quốc Bình-Truyện kể 109 nguyên tố hóa học, trang 10, NXB Giáo Dục 2006 của Trần Ngọc Mai

Tượng Trần Hưng Đạo bằng đồng

Photobucket
Mới phát hiện tượng Trần Hưng Đạo bằng đồng
ở vùng châu Ô châu Lý cũ


Pho tượng đồng tôi được chiêm ngưỡng quả là một phát hiện hiếm có. Tượng mô tả một người ngồi trên bệ ngai hai tay đeo tràng hạt nắm vào nhau theo tư thế bắt quyết, mặt hơi ngẩng thể hiện dung nhan đày đặn, sáng sủa, tươi tắn, khoan dung với cặp môi cười mỉm và đôi mắt mở to. Điều mới mẻ của pho tượng là phong cách thể hiện phối trộn những yếu tố nghệ thuật trang trí đồ đồng truyền thống ở Tây Nguyên, nghệ thuật Chăm Pa và nghệ thuật làm tượng Đại Việt . Đây là một pho tượng ngồi với tổng chiều cao khoảng hơn 60cm. Phần thân người được khoác bộ trang phục nhà quan với chiếc áo khoác ngoài có phần cổ cánh sen trang trí hoa văn, trước ngực sẻ hình chữ T ngược thường thấy trong các tượng làm bằng gỗ hay đất thời Lê. Đoạn thắt lưng có ngấn đai với vạt phủ thả giữa hai chân. Phía sau lưng thể hiện rõ đai áo và tấm đỡ lưng hình chữ nhật, đặc biệt là hai cánh nách áo cạnh lưng rất tiêu biểu của trang phục đời Lê đã được khai quật trong các mộ hợp chất thế kỷ 17,18 và thường mô tả trong các tượng vua quan trong các đền chùa đồng bằng bắc bộ. Phần chân ngồi thể hiện khá rõ hai lớp trang phục, phía trên là phần áo dài khoác ngoài, phía dưới bên trong là gấu quần thụng phủ lên đôi hài mũi cong nhẹ. Đôi hài cũng mang phong cách trang trí tượng đồng bằng bắc bộ.

Nếu chỉ nhìn bức tượng từ phần cổ trở xuống, ta dễ dàng nhận ra sự quen thuộc với các tượng trong các đền chùa miền Bắc nước ta ở thời Lê, Trịnh. Tuy nhiên, cách trang trí bệ ngồi và nhất là cung cách thể hiện nét mặt và chiếc mũ cánh chuồn phản ánh tính địa phương rõ nét của nghệ nhân làm tượng.
Bức tượng thể hiện một người đàn ông không có râu, không lông mày, mắt rộng hơi nhếch cười nhưng không có con ngươi và nếp mí, mang phong cách chân dung tượng Chăm rất điển hình. Trên đầu bức tượng đội mũ cánh chuồn, nhưng không giống các mũ cánh chuồn miền Bắc mà được tạo một bản hình tròn ở trên và hai cánh cong như lá cây ở hai bên. Chính giữa bản tròn phía trên là đồ án trang trí gồm hai hình chữ C soắn hai đầu úp lưng vào nhau tương tự đồ án điển hình của những chiếc “hộ tâm phiến” bằng đồng trong văn hóa Đông Sơn. Phía dưới là một bông hoa đào bốn cánh ở giữa có gắn một viên đá quý màu xanh đen. Viền trang trí trên mũ cánh chuồn thống nhất chung với mọi băng viền trang trí trên bệ ngai tượng, đó là viền băng hình quấn thừng đối xứng giống như các nhánh đôi của bông lúa mạch. Băng trước trán cũng được trang trí tương tự, nhưng được bổ sung thêm một băng phía trên tạo bởi những hình chữ C soắn hai đầu nằm ngửa. Cách trang trí hình soắn thừng (hay hình bông lúa) và hình sợi dây cuốn chữ C và chư S soắn hai đầu là phong cách điển hình của nghệ thuật Tây Nguyên. Trên cổ bức tượng là một vòng hạt chuỗi gần giống tràng hạt của tăng lữ. Tràng hạt như vậy còn thấy được đeo trên hai cổ tay bức tượng tôn thêm vẻ thánh thiện mộ đạo của nhân vật.Bức tượng được bảo tồn gần như nguyên vẹn. Tuy nhiên khi xem xét kỹ chúng tôi nhận thấy hai bàn tay bắt quyết trước ngực dường như cầm nâng một vật gì đó đã bị gẫy từ trước. Có thể đó là một thanh kiếm. Như vậy, xét trang phục, mũ đai có thể nhận ra tư thế của một vị quan, nhưng cách thể hiện khuôn nét mặt lại như một vị thánh. Điều này đã được giải mã nhờ những dòng chữ khắc chìm sau lưng bức tượng.
Phía sau bức tượng, nghệ nhân đã khắc chữ thành 4 dòng với tổng số 9 chữ. Dòng trên cùng có 4 chữ Đại Vương Thượng Thầnkhắc ở phía trên tấm đỡ lưng hình chữ nhật. Điều đáng lưu ý là chữ Đại sai chính tả. Đó là chữ Đại mang nghĩa Đời, Thời Đại chứ không phải chữ Đại là to lớn, vĩ đại trong nghĩa đúng của chữ Đại Vương. Dòng thứ hai gồm ba chữ Trần Hương Đạođược khắc ở chính giữa tấm đỡ lưng, ngay trên đai thắt lưng. Lưu ý là Hương chứ không phải là Hưng. Dòng thứ ba có một chữ Trần khắc ở bên dưới đai thắt lưng. Dòng thứ tư có một chữkhông đủ nét, có thể là chữ Thần (?) khắc ở chính giữa phía dưới bên ngoài tấm đỡ lưng.
Nhờ những chữ này mà việc giám định và định danh bức tượng được dễ dàng hơn rất nhiều. Rõ ràng đây là một bức tượng Trần Hưng Đạo. Theo chủ nhân bức tượng thì người dân vùng Quảng Trị đã đào được báu vật này trong một am gạch trong vùng. Nghiên cứu cách phát âm của nhiều địa phương miền trung (kể từ Hà Tĩnh trở vào) cho thấy chữ Hưng thường đọc là Hương. Việc khắc chữ Trần Hương Đạo thay cho Hưng Đạo phản ánh rõ vùng đất đã đúc ra bức tượng này là vùng miền Trung ở thời điểm còn mang đậm phong cách nghệ thuật Chăm Pa và Tây Nguyên. Nét chữ khắc chân phương nhưng không nhà nghề lại sai chính tả đã chứng tỏ tính dân dã của thợ tạo tượng. Vậy nguồn gốc và niên đại bức tượng này thế nào?
Như đã phân tích ở trên về trang phục bức tượng ta nhận thấy nhiều yếu tố phong cách trang phục Lê Trịnh đàng Ngoài. Tuy nhiên cách thể hiện phần đầu, mặt người và trang trí ngai ngồi lại phản ánh rõ nét tính địa phương miền Trung, đàng Trong. Thông tin của chủ nhân bức tượng về nơi phát hiện là vùng Quảng Trị theo tôi là khá phù hợp. Kích thước tượng chỉ phù hợp với những điện thờ dòng họ. Và điều đó gợi ý hướng tìm tòi nguồn gốc bức tượng từ những quan lại họ Trần đã theo chúa Nguyễn vào khai khẩn xứ Đàng Trong ở thế kỷ 16-17.
Theo sách Ô Châu Cận lục của Dương Văn An, người sống ở thế kỷ 16 thì từ cuối đời Trần, đặc biệt dưới thời khuynh loát của Hồ Quý Ly, vùng Thuận Quảng đã có nhiều dòng tộc người Việt vùng Hoan Diễn (Nghệ An, Hà Tĩnh) vào khai khẩn cùng người địa phương. Trong đó họ Hồ và họ Trần chiếm số đông và thuộc vào những danh gia vọng tộc trong vùng với hàng chục nhân sĩ họ Trần, nhiều người khi đó đã được lập đền thờ. Vào thời bắt đầu xưng vương của chúa Nguyễn ở Thuận Quảng nổi lên vai trò của một viên quan họ Trần cai quản vùng Quảng Bình, Quảng Trị ngày nay, đó là Trần Đức Hòa. Chính vị quan này đã có công lớn chiêu nạp Đào Duy Từ dưới trướng vào năm 1625 rồi hai năm sau (1627) giới thiệu Đào Duy Từ với chúa Sãi Nguyễn Phúc Nguyên. Tương truyền, Trần Đức Hòa thuộc dòng dõi nhà Trần, làm quan và theo chúa Nguyễn vào trấn thủ Thuận Hóa. Rất có thể ông có liên hệ với dòng họ Trần Đức ở Nghệ An.

Phân bố đền thờ Trần Hưng Đạo dày đặc ở miền bắc nước ta. Tuy nhiên vắng bóng ở vùng châu Ô châu Lý. Việc đưa tượng Trần Hưng Đạo vào thờ ở vùng Chăm Pa cũ như một Thượng đẳng thần rõ ràng gắn liền với những quan lại họ Trần trong vùng mà một trong những nhân vật họ Trần có nhiều uy tín và thế lực nhất ở vùng đất Thuận Quảng ở thế kỷ 17 là Trần Đức Hòa. Vì thế có cơ sở để nghĩ rằng Trần Đức Hòa đã cho thợ địa phương đúc tượng này để thờ vọng Đức Thánh Trần như cung cách người Việt ở Đàng Ngoài. Một số nhà sưu tầm lâu năm nhận định căn cứ vào hoa văn, mũ cánh chuồn trông rất lạ và bề dày của bức tượng (khoảng 2cm) mà lớp patin lên bóng cho rằng pho tượng này nằm ở thế kỷ XIV. Đó cũng chỉ là một nhận định ban đầu.
Đây là một phát hiện rất có giá trị cả về lịch sử lẫn mỹ thuật. Gần như chúng ta chưa bao giờ phát hiện tượng đồng Trần Hưng Đạo trong thời Phong Kiến. Đây lại là pho tượng phân bố ở một vùng cách xa khu vực tập trung đền thờ Trần Hưng Đạo, được tạo tác ở niên đại khá cổ xưa với phong cách mỹ thuật phối trộn giữa phong cách thể hiện trang phục Lê Trịnh đằng Ngoài với phong cách nghệ thuật truyền thống Chăm Pa và Tây Nguyên. Điều vô cùng đáng quý nữa là bức tượng được bảo rồn khá nguyên vẹn. Trên thân tượng phủ lớp patin gỉ đồng màu xanh đôi chỗ còn giữ được lớp tô màu vàng phủ trên các nếp áo. Hy vọng trong một thời gian gần đây chủ nhân bức tượng sẽ tạo điều kiện để đông đảo nhân dân cũng như các nhà nghiên cứu lịch sử, mỹ thuật có thể chiêm ngưỡng kiệt tác vô giá này.

Bài viết: Nguyễn Việt,
Hiện vật sưu tầm: Nguyễn Văn Phẩm.

Tuesday, April 27, 2010

Nền văn hóa Sanxingdui

Photobucket


Nền văn hóa Sanxingdui có từ khoảng 4.800-2.800 năm trước đây. Nền văn này trãi dài thời gian từ giai đoạn cuối của thời kỳ đồ đá mới đến giai đoạn cuối của triều đại nhà Thương và giai đoạn đầu của triều đại nhà Chu.Nền văn hóa Sanxingdui được xác định là sớm nhất và lớn nhất của nền văn hóa cổ đại nhà Thục. Vì hầu hết các cổ vật khai quật từ Sanxingdui được phát hiện trong tình trạng bị cháy xém. Một giải thích đưa ra là chiến tranh đã kết thúc nền văn minh. "Có thể là các nền văn minh Sanxingdui đã xâm chiếm bởi bộ lạc khác . Vương quốc Sanxingdui bị đốt cháy và bị phá hủy các vật hiến tế , các ngôi đền.. trước khi thay thế các triều đại mới của nó... " ông Zhu Zhangyi nói .
Photobucket 

Sanxingdui (tiếng Trung: 三星堆, bính âm: Sānxīngduī; nghĩa là ba ngôi sao chụm gò - ba ngôi sao vàng trên một đường thẳng (sao cán gáo )  Hay Tam Tinh Đôi ) văn hóa Sanxingdui được cho là chia thành nhiều giai đoạn. Giai đoạn đầu có thể được độc lập, và các giai đoạn sau được xáp nhập với nhà Chu và các nền văn hóa khác. Nền văn hóa này được nhận biết rằng đã sản xuất ra các hiện vật đồ ngọc và đồng được kiểm tra độ phóng xạ carbon 14 như là từ thế kỷ 12-11 TCN. Các vật hiện vật Sanxingdui có vị trí tìm thấy khoảng 40 km về phía đông bắc Thành Đô Chengdu ở tỉnh Tứ Xuyên, 10 km về phía đông của thành phố Quảng Hán, cách khoãng 50km từ thành phố Chengdu (thành phố Trùng Khánh, tỉnh Sơn Tây, Cam Túc… ) thủ đô của tỉnh Tứ Xuyên ngày nay....Vào Năm 1929, một nông dân vô tình khai quật một cái hầm lớn có chứa đầy các di tích ngọc bích, trong khi đào một cái giếng. Trong hầm đó có chứa nhiều hiện vật trông giống như các cổ vật đã nằm rãi rác trong tay của các nhà sưu tập tư nhân. Các chuyên gia khảo cổ Trung Quốc cố tìm kiếm thêm xung quanh các khu vực có liên quan đến cổ vật nhưng cuối cùng không có sự thành công... Cho mãi đến năm 1986, khi các công nhân xây dựng vô tình tìm thấy một hố chứa hàng nghìn vàng, đồng, ngọc bích... ( Các hiện vật gốm đã bị hỏng -có thể bị biến dạng nghi lễ, đốt, chôn cất rất cẩn thận. ) Các nhà nghiên cứu rất ngạc nhiên khi phát hiện ra một nền văn hóa với phong cách nghệ thuật đã hoàn toàn chưa biết đến trong lịch sử nghệ thuật Trung Quốc (được liệt vào lịch sử với đồ tạo tác của nền văn minh xung quanh sông Hoàng Hà )Tất cả những khám phá về nền văn hóa Sanxingdui đã làm dấy lên sự quan tâm trong giới khảo cổ và sử học...
Photobucket
Nền văn hóa này tồn tại khoãng đời Hậu Thương (1600-1027 TCN) Hoặc đời nhà Thục (蜀) là một quốc gia cổ ở vùng Tứ Xuyên, Trung Quốc. Dân tộc chủ yếu ở Thục là người Khương . Nước Thục bị Tần đánh bại vào năm 316 TCN. Khi đó kinh đô của Thục đặt tại Thành Đô. Trong lịch sử, nước Thục được nhắc đến lần đầu trong vai trò một đồng minh với nhà Chu lật đổ nhà Thương , tham gia trận Mục Dã .Người Ba ờ vùng này có lẽ là Khương tộc thuộc Tam Miêu sau này đã rời Trung Hoa vào khoảng 200 BC để lập nên nước Chân Lạp (Truyền thuyết Trung Hoa còn ghi lại thời kỳ tranh chấp sông Hoàng giữa Hán và Miêu (người Mèo) vào thiên kỷ 3 trước C.N. Trước chính sách diệt tộc của người Hán, người Mèo đã phải lùi dần xuống phương Nam nhưng vẫn luôn luôn bị người Hán theo đuổi mà tiêu diệt. Trong khi nhiều bộ tộc Việt đã thiên di ra xa hẳn vùng người Hán chiếm cứ thì người Mèo vẫn lẩn quất tại Hoa Lục. Bỏ Hoàng Hà, họ lui xuống Dương Tử, rồi qua sông đi về đông nam. Để tránh nạn diệt chủng, họ phải rút lên các núi cao vùng Nam Lĩnh (người Hán về sau gọi là Miêu Lĩnh) ở ranh tỉnh Vân Nam, Quảng Tây, Hồ Nam, Quý Châu và Tứ Xuyên, nơi đã được mô tả bằng thành ngữ “trời không ba ngày sáng, đất không ba thước bằng,” vì có địa thế vô cùng hiểm trở và bị sương mù bao phủ quanh năm. Mãi tới thế kỷ 17 mới bắt đầu có những đoàn người Mèo thiên di xuống Đông Nam Á, tổng số hiện nay cũng chỉ độ vài trăm ngàn. Số còn lại bị tiêu hao dần sau mỗi đợt nổi dậy chống Hán. Cho đến nay, một dân tộc trước kia đông đảo ngang dân Hán và đã choán giữ bình nguyên phát triển văn minh thuỷ đạo (lúa cấy ruộng nước) đầu tiên, nay chỉ còn lại 2,5 triệu người rải rác trên các vùng cao nguyên cằn cỗi và hoàn toàn biến thành dân ở núi. Trường hợp Miêu tộc được nêu lên ở đây chỉ là một trường hợp điển hình trong lịch sử bành trướng của Hán tộc) . Còn dân Cửu chân có thể là người Kushan (Quí Sương) hoang dã của tộc chủng Việt Nhục Chi đã di cư xuống qua ngả Tứ Xuyên , họ không biết cày cấy. Hậu Hán thư chép : “ Người Cửu Chân tục lấy săn bắn làm nghề nghiệp, không biết cày bằng trâu bò”. Đông quan Hán ký viết : “Cửu Chân tục đốt cỏ mà trồng trọt o cày ruộng”. Tiền Hán thư viết : “ Dân thường hay túng thiếu phải nhờ Giao Chỉ giúp lúa cho”. Sử Trung Hoa nói rằng khi Nhâm Diên làm thái thú Cửu Chân bấy giờ dạy cho dân cày cấy, có lẽ là dạy cho người Cửu Chân này.Photobucket




Theo Thượng Thư , chương Vũ cống sơn thủy , thì con sông Hắc thủy ở về phía tây bắc Tửu Tuyền chảy về hướng tây qua Tam Nguy sơn đến vùng sa mạc cạnh Đôn Hoàng, ngoài ra ở Lương châu còn có một con sông Hắc thủy còn gọi là Kim sa giang ở Vân Nam, như vậy cũng có thể là tộc Tam Miêu khi di cư xuống Vân Nam đã mang theo tên của con sông này. Sử Ký Tư mã Thiên cho rằng trong số Nam man có Dạ Lang (Yelang) tọa lạc ở phía tây nam Quí Châu là lớn nhất, ở phía tây Vân Nam là Điền Việt xung quanh hồ Nhĩ Hải (Erhai) được công nhận có kỹ thuật đúc đồng niên đại khoảng 1200BC. Tư Mã thiên đã phân loại người man ở tây nam Trung hoa thành hai nhóm: Nam di tương đương với người Bộc Việt có tổ tiên sống ở phía nam sông Hán thủy vào thời Thương Chu và Tây di là người Khương. Giới khảo cổ Trung Quốc gọi là cổ vật thuộc nhóm dân Ba Thục và xếp chúng vào thời kỳ cuối đời Thương. Tuy nhiên người ta biết rằng nước Thục có từ khoảng 4700 năm trước, sớm hơn đời Thương 1000 năm. Giới khảo cổ cũng phát hiện ở Tây Nam Thành Ðô ngôi đền thuộc cùng nền văn hóa, có tuổi từ 3000 đến 4700 năm trước. Chủ nhân nước Thục là dân cư nông nghiệp, trồng lúa, đánh cá, ở nhà sàn, sử dụng những loại rìu có vai là công cụ đặc trưng của Văn hóa Hòa Bình. Có nhiều khả năng họ là nhóm Tây Âu hay Âu Việt trong cộng đồng Indonesien Bách Việt, sau này chuyển hóa thành nhóm loại hình Ðông Nam Á.
Photobucket


Có thuyết cho rằng gia đình Thục Phán là hậu duệ của các vua Khai Minhnước Thục thời Chiến Quốc, chạy về phía Nam để tránh bạo loạn vào cuối thời Chiến Quốc và khi nhà Tần nổi lên. Thục Phán đã đến vùng lãnh thổ của người Âu Việt (甌越) (nay là đông nam Quảng Tây, tây nam Quảng Đông, Trung Quốc và đông bắc Việt Nam) gây dựng lực lượng quân sự tại đây.Tuy nhiên, thuyết này bị nhiều nhà nghiên cứu nghi ngờ. Khoảng cách từ Tứ Xuyên tới miền Bắc Việt Nam là khoảng 3000 km , và khoảng thời gian từ khi nước Thục bị Tần diệt (316 TCN) đến khi An Dương Vương lên ngôi ở Việt Nam (257 TCN) là gần 60 năm.
Sách "Ngược dòng lịch sử" của GS Trần Quốc Vượng cho rằng sau khi nước Thục bị Tần diệt, con nhỏ vua Thục là Thục Chế được lập lên ngôi, lưu vong về phía đông nam. Tuy nhiên qua thế hệ Thục Chế vẫn phải lẩn trốn trước sự truy nã của Tần và không có cơ hội khôi phục nước Thục cũ. Cuối cùng tới con Thục Chế là Thục Phán thì hình thành quốc gia nằm ở phía bắc Lạc Việt của họ Hồng Bàng...Nước Thục (ở Tứ Xuyên ngày nay) mất năm 316 TCN. Sau vài lần chống Tần thất bại con cháu chạy xuống phía đông nam và đóng ở phía bắc nước Văn Lang, sống với người Âu Việt. Sau một thời gian đứng vững, thủ lĩnh Âu Việt tiêu diệt thôn tính Lạc Việt. Trong trường hợp này, không hẳn thủ lĩnh Âu Việt đã là dòng dõi nước Thục cũ mà có thể chỉ là con cháu của tướng lĩnh, quan lại cũ của Thục, xưng làm họ Thục để thu phục nhân tâm vùng Âu Việt. Nǎm Giáp Thìn (257 trước Công nguyên). Thục Phán dẹp yên mọi bề, xưng là An Dương Vương, cải quốc hiệu là Âu Lạc, (tên hai nước Âu Việt là Lạc Việt ghép lại) đóng đô ở Phong Châu (Bạch Hạc, Phú Thọ).( Gốc của tên Thục Phán và tên hiệu An Dương theo đó gần với phát âm Trung Hoa (Ngan-Yang và Shu Pan) so với âm Việt, và khó hiểu là Thục Phán không phải là tên, mà mang nghĩa Chúa Đất hay Chúa Người...)
Photobucket
Bộ sử lâu đời nhất và gần thời An Dương Vương nhất là Sử ký Tư Mã Thiên chỉ nhắc tới nước Âu Lạc mà không nhắc tới An Dương Vương hay họ Thục . Đại Việt Sử ký Toàn thư chép: Vua Hùng Vương có người con gái nhan sắc tuyệt vời tên gọi là Mỵ Nương. Vua nước Thục nghe tin, sai sứ cầu hôn. Vua Hùng Vương muốn gả nhưng Lạc Hầu can rằng: Thục muốn lấy nước ta, chỉ mượn tiếng cầu hôn đó thôi. Không lấy được Mỵ Nương, Thục Vương căm giận, dặn lại con cháu phải diệt Văn Lang mà chiếm lấy nước. Đời cháu Thục Vương là Thục Phán mấy lần đem quân sang đánh nước Văn Lang. Nhưng Vua Hùng Vương có tướng sĩ giỏi, đã đánh bại quân Thục. Vua Hùng Vương nói: Ta có sức thần, nước Thục không sợ hay sao? Bèn chỉ say sưa yến tiệc không lo việc binh bị. Bởi thế, khi quân Thục lại kéo sang đánh nước Văn Lang, vua Hùng Vương còn trong cơn say. Quân Thục đến gần, Vua Hùng trở tay không kịp phải bỏ chạy rồi nhảy xuống sông tự tử. Tướng sĩ đầu hàng. Thế là nước Văn Lang mất. Giáp Thìn, năm thứ 1 (257 TCN ) , vua đã thôn tính được nước Văn Lang, đổi quốc hiệu là Âu Lạc.
Photobucket

Trở lại thì những bằng chứng của nền văn hóa độc lập khác nhau trong các khu vực khác nhau của Trung Quốc thì đã đi ngược lại những giả thuyết về những truyền thống văn hóa được cho là :cái nôi của nền văn minh Trung Quốc chỉ có mặt xung quanh khu vực sông Hoàng Hà.Khu di tích Sanxingdui tình cờ được phát hiện vào năm 1929 khi một nông dân người địa phương đào mương trên cánh đồng. Cuộc khai quật Sanxingdui đầu tiên được tiến hành từ năm 1933. Nơi đây chứa khoảng 10.000 cổ vật bị chôn vùi trong đất, có niên đại khoảng 5.000-3.000 năm trước Công nguyên, bao gồm các đồ tác tạo bằng đồng, vàng, ngọc bích và đá cẩm thạch; ngoài ra còn có rất nhiều đồ gốm, vật dụng bằng xương và ngà voi. Tuy nhiên, người ta không tìm thấy một loại văn bản hay chữ viết nào. Những gì tìm thấy tại khu văn minh Sanxingdui đã góp phần làm thay đổi bộ mặt lịch sử đất nước Trung Quốc rộng lớn này. Nó chứng tỏ một điều nền văn minh Trung Hoa cổ còn xuất phát từ sông Dương Tử từ 5.000 năm trước, chứ không chỉ lưu vực sông Hoàng Hà như suy nghĩ của giới khảo cổ trước đây. Các di tích khảo cổ tìm thấy tại Sanxingdui đã làm các nhà khảo cổ ngạc nhiên, vì một nền văn hóa với phong cách nghệ thuật đã được xác định hoàn toàn không giống với các nghệ thuật Trung Quốc vào thời gian lúc đó. Sanxingdui là một thời đại văn hóa đồ đồng , thể hiện bằng đồng cao cấp kỹ thuật nấu chảy kim loại từ khoảng 1.200 năm trước Công nguyên.??? Với một lịch sử lâu dài, Sanxingdui nằm trên miền phù sa của sông Đà về phía bắc của đồng bằng Thành Đô Chengdu, và rãi rác trong các chi nhánh của con sông Dương Tử (được gọi là Duck sông của người dân địa phương). Nó có nguồn gốc từ các núi  ở phía bắc của núi Min (núi Minh Cát ) , nơi mà người ta nói rằng vua của Vương quốc cổ đại Thục bị săn bắn cho vui. Người ta nói rằng các Ngọc Hoàng hay Thần Nông đã rải ba nắm đất từ trên trời, mà rơi trên bờ sông Tiền ở Quảng Hán và từ đó trở thành ba giòng giống như ba ngôi sao vàng trên một đường thẳng, do đó, đến các Sanxingdui tên (ba - giồng sao tiếng Trung Quốc). Về phía đối diện của Sanxingdui qua sông là một hồ quang hình bán nguyệt tên Kim Sa ( Moon Bay) hay Suối Trăng Non.- Bất kể là ngày hay đêm mặt nước đều phẳng lặng, sáng trong như mặt nguyệt nên suối mới có tên như vậy. Có điều rất kì lạ là con suối này ở giữa sa mạc hoang vu, không có sự giao lưu địa chất với bất kì bờ biển nào, vậy mà dòng chảy cứ thay đổi liên tục và con suối luôn trong vắt đến tận đáy, khiến người ta không khỏi ngạc nhiên. 
Photobucket


Trong số các di vật bằng đồng có một số loài chim đại bàng với cái mỏ lớn , cái chuông , cái gậy , hình cái mặt nạ người với mũi nhọn với đôi mắt lồi ra ,miệng rộng và đôi tai lớn ... Những di vật cũng được tìm thấy là một cây bằng đồng cao ba mét được chạm khắc trang trí với các loài chim và thú và các loại trái cây . Phần đáng chú ý nhất là một bức tượng khổng lồ của con người nặng trên 180 kg .Những biểu tượng này được gọi là Totim (Tao-Tie) hoặc Totem là những biểu tượng các loài linh vật hay vật tổ tiên trong các nghi lễ hy sinh hay trong các buổi lễ cầu nguyện cho các vị thần của Thục cổ đại. Do phát hiện này, Trung Quốc đã được chứng minh có một nền lịch sử lâu nhất của Totem (tổ tiên ) thế giới - với hơn 5.000 năm.
Photobucket
 Các mặt nạ làm bằng vàng , ngọc hoặc kim loại bằng đồng được đặt cắm trên cọc gỗ. ( Các nền văn hóa trên thế giới lấy vật tổ Toten nay đã tồn tại trong nền văn hóa Sanxingdui ở Trung Quốc là một phần còn lại của thế giới ngày nay).Các tổ vật của vùng Bắc Mỹ có nhiều thiết kế khác nhau như :gấu, chim, ếch, con người, thằn lằn... Chúng có cánh tay, cánh và chân. Các Totem (tổ tiên )  ở Trung Quốc cũng có nhiều hình thức động vật, nhưng sự biểu đạt thì có nhiều chi tiết nghiêng về con người ...Thậm chí một vài giả thuyết còn cho rằng Sanxingdui là một kiệt tác được tạo bởi các sinh vật sống ngoài trái đất , hay văn minh Sanxingdui là nguồn gốc tục săn đầu người rồi cắm lên những cọc cây... Các cột đồng cao 3,96 mét có hình dạng cái cây , cây này bao gồm một thân cây, bệ, nhành. Loại cây này có chia ba tầng và chín cành ( chín tổng số nhánh ), trên đó là những bông hoa và những miếng trái cây, một con chim ngồi trên từng ngành cây . Cây linh thiêng phản ánh khái niệm nền văn minh Sanxingdui như sự nhớ ơn cội nguồn hay sự thông thiên giữa trời đất . Đáng chú ý khác là các mặt nạ Sanxingdui được gắn trên cọc với hai đôi mắt nhô ra nhô ra hoặc hai con mắt thật lớn hình bầu dục lồi lên như hình dạng của nét cắt kim cương.
Photobucket

Đây là một thanh kiếm dùng để tế lễ của pháp sư hay dùng cắt máu của mình để dâng lên tổ tiên. Các tế sư hay dùng dao kiếm cắt máu rồi nhỏ lên cán kiếm ( tượng trưng cho ngôi sao Hùng Tinh ,theo huyền thoại Kun Peng )  
Còn các cổ vật bằng ngọc bích được khai quật từ hai hố chôn lấp Sanxingdui cũng có những tạo tác tương tự với lối chạm khắc với các mẫu thiết kế hình học, lỗ tròn và các vật được khắc hình trên các ngọc bích được kiểm chứng và thử nghiệm bởi các chuyên gia Nhật Bản,( những phát hiện của họ cho rằng các vật dụng được chế tác bằng tay không đã được đánh bóng hoặc chạm khắc... dấy lên câu hỏi làm thế nào họ được tạo ra mà không có sự trợ giúp của công nghệ cắt kim cương nhiều thiên niên kỷ trước đây.? ) Ngoài ra có các bức tượng người bằng ngọc bích cao hơn các tác phẩm điêu khắc hình người bằng đồng đứng... Và một cổ vật khá quan trọng là một tấm ngọc bích được khắc lên những hình ảnh của cuộc chiến tranh cổ Thục như một kịch bản của câu chuyện ghi lại. Ông Zhong Ming đã tham khảo ý kiến chuyên gia về chữ khắc trên mai rùa và xương động vật giáp cốt của đời nhà Thương (khoảng 16 thế kỷ thứ 11 trước Công nguyên). Họ nói với ông rằng những chữ khắc trên xương, thường được coi là hình thức biểu đạt chử viết đầu tiên ở Trung Quốc .Nhiều khuôn mặt đồng Sanxingdui có dấu vết của sơn trát tô lên , Sơn đen hoặc xanh thì ở phần trên đôi mắt , và son đỏ thì bôi trên môi, lỗ mũi và lỗ tai. Ồng Su giải thích :"son như một cái gì đó nói lên hương vị, mùi, hoặc nghe.. (hoặc cái gì đó cho nó như tiếp sức thêm cho sức mạnh để thở, nghe, và nói chuyện)." Dựa trên thiết kế của các mặt nạ , các nhà khảo cổ tin rằng họ đã cắm gắn kết vào các cây hoặc trục bằng gỗ. " Nghi lễ mang mặt nạ đóng một vai trò quan trọng trong cộng đồng của cư dân cổ Sanxingdui " Từ những đặc điểm của những mặt nạ nghi lễ bằng đồng , hay bằng ngọc bích dường như đã nói lên : Có một vị chủ tế hay Shaman pháp sư, hay một nhân vật làm đại diện nghi lễ cho một người thân chủ nào đã chết. Các shi ( Người mang mặc nạ )hay các thân nhân mặc một trang phục (có thể mang mặt nạ) đã cố tái tạo lại hình ảnh của người chết hay diễn tả lại những sinh hoạt của người chết đối với tổ tiên.
Photobucket
Mặc dù ý nghĩa có thể đã khác nhau của Sanxingdui nhưng mặt nạ được sử dụng như : để mạo danh hay chuyển  những lời thông thiêng từ trời đất, tổ tiên.Một so sánh khác "Với hai con mắt mở phồng của các hình nộm và miệng mở lớn được thiết kế như để tạo ra ảo giác..." Trong giả thuyết của Julian Jaynes có đoạn "Có thể là phía nam Trung Quốc người đeo mặt nạ bằng đồng này dùng để thôi miên, hay dùng nó để nhập đồng , lên đồng... Ngoài ra người mang mặt nạ này hình như đang là một tế sư được đề cử để có nhiệm vụ  đại diện cho tinh thần của một tổ tiên... " Đồ tạo tác bằng đồng khác thì bao gồm có các biểu tượng :các loài chim đại bàng, hổ, con rắn cuộn mình trên con rùa , bánh xe luân hồi..... Giống như những hoa văn trang trí trên các lá chắn của các chiến binh . Ngoài các vật bằng đồng ra ,nền văn hóa Sanxingdui còn được thấy các đồ tạo tác ngọc phù bích có liên quan đến với nền văn hóa Trung Quốc trước thời đồ đá mới, chẳng hạn như cong và và bi Đĩa. Nghiên cứu gần đây cho thấy lưu vực Tứ Xuyên cổ không cô lập như ban đầu nhưng, trái lại, một trục giao thương chính thời cổ đại. Huo Wei, một nhà nghiên cứu tại Đại học Tứ Xuyên cho thấy rằng tổ tiên nước Thục đã tiếp xúc với thế giới bên ngoài thông qua trao đổi thương mại : "Ngành công nghiệp đồng đã giúp thiết lập quan hệ thương mại giữa đồng bằng miềnTrung và lòng chảo Tứ Xuyên, nguyên của nền văn minh tiên tiến đã có một ảnh hưởng trên Thục vương quốc cổ đại. Còn nhà nghiên cứu Nhật Bản Hidenori Okamura, có phân tích các vết tích đồ đồng có từ cả hai nền văn hóa Sanxingdui và Người Đông Di ,hay người Ba Thục , An Dương (Diqiang, Ba, Dongyi, Yue or Sanmiao Yufu, or Kaiming Dynasty???)Theo nhiều nhà khảo cổ Tây Phương, Trung Hoa đã gán cho đồ đồng Sanxingdui niên đại trẻ hơn tuổi thật, vì Trung Hoa đã dùng chuẩn niên đại đồ đồng thời Thương để định tuổi một văn hóa đồng thau hoàn toàn khác biệt ... Nhưng vì nền văn minh Shu (nhà Thục) đã đúc nên đồ đồng này vốn có mặt tại Tứ xuyên từ 5000 năm trước, thì đồ đồng to tuyệt xảo ấy nhất định phải xưa hơn đồ đồng thời Thương (1300 B.C.), mà TQ vẫn hãnh diện ( Vào thời đó, ở miền Bắc Việt Nam chỉ có đồ đồng loại nhỏ như mũi tên, giáo, lao , nông cụ. Đồ đồng Đông Sơn thường có pha chì nên hoa văn rõ nét và tiếng trống vang xa... ) Khu vực thứ tư bao gồm vùng Anyang và các tỉnh Sơn Tây, Thiểm Tây. Ðồ đồng vùng này, theo học giả Anderson, có niên đại 1300 năm TCN. Niên đại này muộn nhiều so với đồ đồng Phùng Nguyên sớm (1850 năm TCN) nhưng sớm hơn đồ đồng sớm nhất tìm thấy ở miền sông Dương Tử khoảng 200 năm. Nét đặc sắc là có chì trong hợp kim đồng trong các dụng cụ tìm thấy ở Hsiao Tun, di chỉ có tuổi sớm nhất.
Photobucket
Ðánh giá về đồ đồng của người Hoa, các học giả trước đây cho là đã du nhập từ phương Tây sang nhưng hoàn hảo không kém đồ đồng bất cứ nơi nào trên thế giới. Nghệ nhân đời Thương đã hoàn chỉnh kỹ thuật mà họ học được. Gần đây người ta cho rằng kỹ thuật đồng người Hoa gần với kỹ thuật Ðông Nam Á hơn là phương Tây (Noel Barnard 1978). Ðiều này phản ánh sự thật là khi chiếm đất của người Bách Việt, người Hoa đã sử dụng nghệ nhân cùng công nghệ đồng cũng như nhiều tiến bộ kỹ thuật khác của dân Viêm Việt.Trong nửa sau của thời Xuân Thu-Chiến Quốc, văn hóa Thục chịu ảnh hưởng ngày càng nhiều từ các nền văn hóa Sở và Ba ; ví dụ, Nhà Thục học theo tục táng bằng thuyền của người Ba. Các bằng chứng khảo cổ học còn cho thấy rằng Thục cũng giao lưu với các nền văn hóa ở phía Nam tại Vân Nam và Quý Châu . với cùng một nguyên liệu được sử dụng trong sản xuất với các vật liệu chế cho ngành quân sự hay trao đổi hàng hóa trong thời bình, từ phía tây nam Trung Quốc, mặc dù nó là chưa biết tại sao. Như vậy Tứ Xuyên là một liên kết quan trọng trong quá trình sản xuất qua khu vực khác ... Ngoài ra có nhiều nhận định cho rằng nền văn hóa Sanxingdui là nền văn minh được phát xuất từ phía Nam Á. Nhiều hiện vật từ các con sò hay trai với răng rãnh xuất phát từ bản địa Ấn Độ Dương đã được tìm thấy trong các di vật khai quật từ Sanxingdui. (Ấn Độ là một nguồn cung cấp sung mãn của loại vỏ trai ốc sò , mà người dân địa phương hay sử dụng như là đấu thầu cho các cuộc thương mại, theo ghi chép lịch sử.) Một số cổ vật Sanxingdui bằng đồng cũng được chạm khắc với hình ảnh của sinh vật biển. Các vỏ sò tìm thấy ở Sanxingdui nói chung là đánh bóng ở một bên và được đục lỗ cho thấy rằng họ đã có dây xâu. Các nhà khảo cổ tin rằng Thục cổ đại sử dụng chúng như là một loại tiền tệ.
PhotobucketPhotobucket
Trở lại như thời đồ đá mới, người Trung Quốc đã xác định một trục tọa của bầu trời theo Nhị Thập Bát Tú ( Mỗi Cung có 7 chòm sao , tổng cộng có 28 chòm Sao ) với hình động vật: Tứ cung( Đông): Thanh Long gồm các chòm sao Lấy hình con rồng ( Thanh Long – Rồng xanh : Phương Đông - hành Mộc, mùa xuân). Tứ cung( Tây): Bạch hổ gồm các chòm sao biểu tượng hình con hổ (Bạch Hổ - Hổ trắng : Phương Tây - hành Kim, mùa thu ) . Tứ cung( Nam): Chu Tước gồm các chòm sao lấy biểu tượng hình con chim.( Chu Tước – Chim đỏ : Phương Nam - hành Hoả, mùa hạ) Tứ cung( Bắc): Huyền Vũ gồm các chòm sao lấy hình con rùa. (Huyền Vũ – Rùa đen, : Phương Bắc, hành Thủy, mùa đông) Mỗi Tứ tượng (chòm sao Trung Quốc) đã được liên kết với một chòm sao đã được nhìn thấy vào mùa có liên quan: con vật tứ linh thấy được khắc trên các Bi hay cái trục cây ở nền văn hóa Sanxingdui. Vì các chử viết không còn tồn tại nên ta cũng băn khoăn khi muốn tìm hiểu về các buổi nghi lễ cầu mưa hay các buổi lể nhằm giao tiếp với những linh hồn của vũ trụ (hoặc tổ tiên )của họ... Một lần nữa ta cũng dễ nhận thấy cái la bàn (N, S, E, W) luôn luôn xuất hiện trong các vật dụng cụ của các tế sư được nhìn dưới các tầng trời và trái đất....
Photobucket


Theo quan điểm của Noel Barnard, một nhà khảo cổ Úc qua quá trình nghiên cứu các đồ tạo tác bằng đồng của Trung Quốc trong ba thập kỷ, các Sanxingdui được một nền văn hóa chịu ảnh hưởng của hợp chất đồng bằng miền Trung và các khu vực khác, nhưng vẫn duy trì đặc tính địa phương của mình. Điều này cho thấy gốc rể văn hóa, không nhất thiết phải giới hạn phía bắc, miền nam và miền tây Trung Quốc... Các loại sò biển tương tự như vậy cũng đã được khai quật ở các phần khác của Trung Quốc - Vân Nam Đại Lý,Côn Minh, Jinning, Sở Hùng và Khúc Tĩnh và Tứ Xuyên của Lương Sơn .Như các khu vực nội địa này đã được vận chuyển và trao đổi từ Ấn Độ. (các tuyến đường dẫn so sánh với bản đồ của Con đường tơ lụa cổ xưa Nam giữa vùng tây nam Trung Quốc và các lục địa cổ đại Ấn Độ. ) Đây là dấu hiệu cho thấy hơn nữa giao lưu giữa những người Thục cổ đại và của Nam Á.
Một trong những lý thuyết nữa là: người cổ đại ở Tứ Xuyên xuất phát từ vùng miền núi ở trên tầng cao của Minjiang thượng nguồn của con sông lớn nhất ở lưu vực Tứ Xuyên , cho rằng các người Di và người Khương sống trong Hạ (thế kỷ 21 16 TCN) và các triều đại nhà Thương.Các vua Thục đầu tiên, được đặt tên Cancong ( Cam Qua ), là của một trong hai hoặc nguồn gốc của Di Qiang, theo lịch sử văn học. Hơn nữa, tất cả các tòa nhà và các ngôi mộ của Văn hóa Sanxingdui được xây dựng phải đối mặt với phía tây bắc - theo hướng của nguồn của sông Hán thủy theo lề lối tôn thờ tổ tiên .









Thursday, April 22, 2010

Niên biểu lịch sử Việt Nam

Thời đại đồ đá cũ

  1. Người vượn Việt Nam. Di tích núi Đọ (30 vạn năm trước đây)
  2. Văn hóa Sơn Vi

 Thời đại đồ đá mới

  1. Văn hóa Hòa Bình
  2. Văn hóa Bắc Sơn
  3. Văn hóa Quỳnh Văn
  4. Văn hóa Bàu Tró (5000 năm trước đây)
  5. Văn hóa Hạ Long
  6. Văn hóa Cù Lao Rùa (lưu vực sông Đồng Nai)

 Thời kỳ bắt đầu dựng nước



Nửa đầu Thiên niên kỷ 2 TCN
Nửa sau Thiên niên kỷ 2 TCN
Cuối Thiên niên kỷ 2 TCN - đầu Thiên niên kỷ 1 TCN
Thiên niên kỷ 1 TCN
500 TCN - Thế kỷ 2
Nửa sau thế kỷ thứ 3 TCN
  • Thất bại của An Dương Vương trước xâm lược của Triệu Đà
179 TCN

Thời kỳ phong kiến phương Bắc đô hộ, (179TCN ÷ 938)

179 TCN - 111 TCN
111 TCN - 25
1 - 630
25 - 226
40 - 43
192
226 - 280
248
280 - 420
420 - 479
  • Thuộc Tề (Nam Bắc triều Trung Hoa)
479 - 502
  • Thuộc Lương (Nam Bắc triều Trung Hoa)
502 - 541
542 - 603
  • Thuộc Tùy




    • Nước Lâm Ấp bị nhà Tùy tiêu diệt
603 - 617
605
618 - 906
722
766 - 791
803
905 - 930
931 - 937
938
Chú thích: Các quốc gia cổ của người Chăm thời kỳ này chưa được coi là lịch sử của Việt Nam, nhưng cũng cần kể đến vì là lịch sử của các quốc gia này nằm hoàn toàn trên lãnh thổ Việt Nam ngày nay và người Chăm là một trong những dân tộc của Việt Nam ngày nay.
Photobucket



Photobucket
























Thời kỳ độc lập, (938 ÷ 1883)


<><>







<><>







<><>







<><>







<><>







<><>







<><>







<><>







<><>





939 - 967
966 -968
968 - 980
980 - 1009
981
1010 - 1225
1069
1070, 1075
1075 - 1077
1075
1077
1077
1164
1226 - 1400
1257 - 1258
1258
trước1285
1284
1284 - 1285
1285
1287 - 1288
1288
1305
1361 -1390
1390
1400 - 1407
1406 - 1407
1407 - 1427
1407 - 1409
1409 - 1413
1415 - 1420
1419 - 1420
1418 - 1427
1426
1247
1248
1428 - 1527
1429
1471
1477
1479
1483
1483
1511
1516
1527 - 1595
1533 - 1592
1570 - 1786
1627 - 1675
1611
1653
1698
1724
1739 - 1769
1740 - 1751
1740 - 1751
1755
1758
1773
1784 - 1785
1785
1786
1786
1786 - 1802
1788 - 1789
1789
1792

Thời kỳ thuộc Pháp (9-1858 ÷ 3-1945)

 1858 ngày 1-9, mở đầu cuộc kháng chiến chống chủ nghĩa thực dân khi hạm đội Pháp - Tây Ban Nha nổ súng tiến công đánh chiếm bán đảo Sơn Trà (Đà Nẵng).

    - Pháp xâm lược ba tỉnh miền Đông Nam kỳ.
    • 1859 ngày 17-2 Pháp đánh chiếm tỉnh, thành Gia Định.
    • 1861 ngày 10-12 Nguyễn Trung Trực đốt cháy tàu chiến Pháp trên sông Vàm Cỏ Đông tại địa phận thôn Nhật Tảo.
    • 1861 ÷ 1864 Khởi nghĩa chống Pháp của Trương Định.
    • 1862 ngày 5-6 Triều đình Huế ký Hiệp ước Nhâm Tuất cắt 3 tỉnh miền Đông lục tỉnh là Gia Định, Định Tường, Biên Hòa cho Pháp.
    • 1864 ÷ 1865 Các cuộc khởi nghĩa chống Pháp của Trương Quyền, Thiên hộ Dương, Hồ Huân Nghiệp.
    • 1866 ngày 16-9 Khởi nghĩa của Đoàn Hữu Trưng - Đoàn Trực chống triều đình Tự Đức (nhà Nguyễn).
    • 1867 ÷ 1874 Pháp tiếp tục xâm lấn ba tỉnh miền Tây Nam kỳ, tiến tới chiếm đóng toàn bộ Nam kỳ.
    • 1867 ngày 20-6 Pháp đơn phương ra tuyên bố 6 tỉnh Nam kỳ là lãnh địa của Pháp.
    • 1868 Khởi nghĩa chống Pháp của Thủ khoa Huân, Phan Công Tôn.
    • 1872 Khởi nghĩa chống Pháp của 18 thôn vườn trầu và ở 3 tỉnh miền Tây Nam kỳ.
    • 1873 ÷ 1874 Pháp đánh Bắc kỳ lần thứ nhất.
    • ngày 20-11 Pháp đánh Hà Nội lần thứ nhất.
    • 1874 tháng 2 Khởi nghĩa của Trần Tấn, Đặng Như Mai chống triều đình Huế thỏa hiệp với giặc Pháp.
    • Khởi nghĩa Văn thân Nghệ Tĩnh.
    • ngày 15-3 Triều đình Huế ký Hiệp ước với Pháp, chấp nhận chủ quyền của Pháp đối với tỉnh Bình Thuận trở vào (toàn bộ Nam kỳ) để Pháp rút khỏi Bắc kỳ.
    • ngày 31-8 Triều đình Huế ký Hiệp ước thương mại với Pháp tại Sài Gòn.
    • 1882 ÷ 1883 Pháp đánh Bắc kỳ lần thứ hai, hoàn thành xâm lược Bắc kỳ.
    • ngày 25-4 Pháp đánh chiếm Hà Nội lần thứ hai.
    • 1883 ngày 12-3 Pháp đánh chiếm khu mỏ than Hòn Gai.
    • 20-8 Pháp đánh chiếm Thuận An, uy hiếp triều đình Huế.
    • ngày 25-8 Triều đình ký Hiệp ước với Pháp tại Huế thừa nhận Bắc kỳthuộc địa của Pháp và chấp nhận nền bảo hộ của PhápTrung kỳ.
    • 1883 ÷ 1887 Khởi nghĩa chống Pháp của Tạ HiệnBắc Kỳ.
    • 1884 ngày 6-6 Triều đình ký hiệp ước với Pháp tại Huế chấp nhận nền bảo hộ của Pháp và sẽ thay mặt nước An Nam trong mọi quan hệ đối ngoại.
    • 1885 ngày 5-7 Sự biến kinh thành Huế.
    - Tôn Thất ThuyếtTrần Xuân Soạn tấn công Pháp ở đồn Mang Cá.