Wednesday, May 19, 2010

Khê Cư Tức Sự - Thôi Đạo Dung

Photobucket

Khê Cư Tức Sự

Ly ngoại thuỳ gia bất hệ thuyền,
Xuân phong xuy nhập điếu ngư loan.
Tiểu đồng nghi thị hữu thôn khách,
Cấp hướng sài môn khứ khước quan.
Thôi Đạo Dung


Trước dậu nhà ai quên buột thuyền
Đầm câu thuyền giạt , gió xuân lên ...
Trẻ ngỡ khách thôn về thăm viếng ,
Vội vã chạy ra động cửa thiền .

Kim Lũ Y - Đổ Thu Nương

Photobucket

Kim Lũ Y - Đổ Thu Nương

Khuyến quân mạc tích kim lũ y
Khuyến quân tích thủ thiếu niên thì
Hoa khai kham chiết, trực tu chiết
Mạc đãi vô hoa không chiết chi

Áo Kim Tuyến ( Áo Công Danh )

       Tiếc chi tấm áo công danh
Chàng ơi trân quý ngày xanh chúng mình
       Bẻ hoa khi nụ đương xinh
Mai sau hoa rụng trơ tình nhành khô.

Saturday, May 8, 2010

TRONG QUÁN NƯỚC NGOẠI Ô

Photobucket

TRONG QUÁN NƯỚC NGOẠI Ô

Và chúng mình gặp nhau từ buổi ấy
Trong quán nước nghèo khuya vắng ngoại ô
Sương ẩm ướt ôm túp lều trống trải
Quây ba bề xiêu vẹo tấm phên thưa


Phải chăng em? ái tình cần đạm bạc
Nên thiên nhiên đã dành sẵn nơi này
Trăng đủ sáng giãi vàng vuông đất hẹp
Gió vừa hanh rung động mái gianh gầy


Khi im lặng nắm tay nhau run rẩy
Trái tim ta giàu có biết bao nhiêu
Quán nước nhỏ hoá lâu đài lộng lẫy
Chứa kho vàng vô tận của tình yêu

Võ Văn Trực

Tuesday, May 4, 2010

Kho báu nhà Nguyễn hiện giờ ra sao?

Vào tháng Tám năm 1945 Chính quyền mới CS đã thu giữ nhiều báu vật của nhà Nguyễn. Việc coi sóc chúng trong điều kiện chiến tranh là cả một kỳ công với nhiều chuyện vui buồn. Giờ đây mong muốn được tận mắt chiêm ngưỡng những biểu tượng một thời của một triều đại đã đi vào quá vãng có lẽ cũng là một nhu cầu chính đáng...
Bảo Đại - vị vua cuối cùng của triều Nguyễn Ấn tín quý dưới thời Nguyễn - Ảnh tư liệu


Đổng lý văn phòng nội các Bảo Đại - Phạm Khắc Hòe ghi lại như sau:

Chiều 27 và sáng 28 tháng 8 năm 1945, tôi cho kiểm kê lại các thứ tài sản trong Đại Nội để giao cho Chính quyền Cách mạng. Nói đến của công trong Đại nội lúc bấy giờ thì quý giá nhất là các đồ vật bằng châu báu ngọc ngà có tính lịch sử của các Vua Nguyễn.
Các thứ này được cất trong một cái hầm lớn mé sau điện Cần Chánh. Hàng năm vào ngày 20 tháng Chạp Âm lịch, triều đình tiến hành lễ Phất Thức. Phất thức là mở hầm lấy tất cả các thức ra để kiểm điểm và quét bụi bặm lau chùi thật sạch rồi lại cất vào hầm khoá lại. Làm những việc này các quan từ nhị phẩm trở lên mới được dự lễ Phất thức và phải tự mình làm lấy mọi việc, đưa ra cất vào dọn dẹp lau chùi.
Cho nên lần tổng kiểm kê cuối cùng này được tiến hành khá dễ dàng và tất cả các loại tài sản đều được giao lại đầy đủ cho chính quyền nhân dân và có giấy tờ minh bạch. Người thay mặt Chính phủ cách mạng lâm thời để kiểm nhận tài sản là ông Bộ trưởng Lê Văn Hiến. (Phạm Khắc Hòe. Từ triều đình Huế đến chiến khu Việt Bắc- NXB Hà Nội 1983 - Tr 74). Lòng không khỏi chút bồi bồi ngó lại những dòng của ông Đổng lý văn phòng nội các Bảo Đại Phạm Khắc Hòe ghi về một sự kiện đã quá vãng.
Lại một đoạn tiếp trong chính sử.
Chiều ngày 30/8/1945, trên nền Đài Lầu Ngũ Phụng Ngọ Môn, trước mặt hơn 5 vạn dân thành Huế, vị Hoàng đế cuối cùng là Bảo Đại đã trao bộ ấn kiếm tượng trưng quyền lực vương triều cho đại diện chính quyền cách mạng CS.
Sau này, đã có nhiều ý kiến cho rằng chiếc ấn đó là Đệ nhất bảo tỷ Hoàng đế chi bảo và cùng với nó là chiếc kiếm báu truyền từ đời Gia Long.
Thay mặt Chính phủ Cách mạng CS, ông Trần Huy Liệu và nhà thơ Cù Huy Cận đã tiếp nhận ấn kiếm và gắn huy hiệu công dân nước Việt Nam DCCH cho cựu hoàng. Bộ ấn kiếm này ngay ngày hôm sau được đem ra Hà Nội để kịp có mặt trong Lễ Độc lập vào ngày 2/9/1945.
Ấn cùng kiếm quý
Chiếc ấn Đệ nhất bảo tỷ Hoàng đế chi bảo, mà về mãi sau này, nhà thơ Huy Cận từng thốt lên với hậu sinh trong đó có người viết bài này rằng khi ông Trần Huy Liệu nhận từ tay ông Bảo Đại trao lại cho ông Huy Cận, nhà thơ đã suýt ngã vì chiếc ấn nặng quá, dễ hơn một yến (10 kg) chứ không ít!
Nhà thơ Huy Cận có lẽ đã không lầm?
Trong số những tài liệu tin cậy hiện có đã biên rõ về chiếc ấn ấy như sau: ấn Hoàng đế chi bảo được đúc bằng vàng ròng vào ngày mồng 4 tháng 2 năm Minh Mạng thứ 4 (tức ngày 15/3/1823). Đây là chiếc bảo ấn lớn và đẹp nhất của triều Nguyễn. Ấn hình vuông, quai ấn là một con rồng uốn khúc, đầu ngẩng cao, mắt nhìn thẳng về phía trước. Đỉnh đầu rồng khắc hình chữ vương; kỳ (vây lưng) dựng đứng; đuôi cũng dựng đứng, vây đuôi uốn cong về phía trước; 4 chân rồng đúc rõ 5 móng, tư thế chống chân xuống mặt ấn rất vững vàng.
Mặt dưới của ấn khắc 4 chữ triện Hoàng đế chi bảo. Mặt trên của ấn, phía hai bên quai khắc nổi hai dòng chữ Minh Mạng tứ niên nhị nguyệt sơ tứ nhật cát thời chú tạo (đúc vào giờ tốt ngày mồng 4 tháng 2 năm Minh Mạng thứ 4); Thập thành hoàng kim, trọng nhị bách thập lạng cửu tiền nhị phân (đúc bằng vàng, trọng lượng 280 lạng 9 chỉ 2 phân). Như vậy chiếc ấn suýt soát 281 lượng vàng, nếu tính 27 lượng tương đương 1kg, thì chiếc ấn này nặng khoảng 10,7kg.
Về việc đúc chiếc bảo ấn này, sách Đại Nam thực lục (tập VI, bản dịch của Viện Sử học, Nxb KHXH-1963, trang 146) có ghi “Ngày Giáp Thìn đúc ấn Hoàng Đế chi bảo núm làm rồng cuốn hai tầng, vuông 3 tấc 2 phân, dày 5 phân, làm bằng vàng 10 tuổi, nặng 280 lượng 9 đồng 2 phân”.
Hoàng đế chi bảo được chế tác (đúc) vào thời vua Minh Mạng, thời mà nước Việt mình lãnh thổ cương vực được mở rộng dài nhất được đổi quốc hiệu là Đại Nam. Vận nước hanh thông triều đình thì thịnh. Riêng vua thì chính phi, thứ phi cung tần mỹ nữ chưa rõ số nhưng khiêm tốn thôi, 142 người con cả thảy, trong đó 74 trai, 68 gái!
Theo quy định của triều Nguyễn, ấn Hoàng đế chi bảo chỉ dùng khi “gặp khánh tiết ban ơn, đại xá thiên hạ cũng là các cáo dụ thân huân, đi tuần thú các nơi để xem xét các địa phương, mọi điển lễ long trọng ấy, và ban sắc, thư cho ngoại quốc”.
Nếu đúng chiếc ấn mà Bảo Đại trao cho ông Trần Huy Liệu là Hoàng đế chi bảo thì kể từ khi đúc ra đến khi trao cho chính quyền Cách mạng, ấn Hoàng đế chi bảo đã có 122 tuổi.

Ấn Khâm văn chi tỷ, thời Minh Mệnh năm thứ 8 (1827) trọng lượng 137 lạng vàng 10 Ảnh: TL

Đang ở đâu?
Chiếc ấn quý cùng thanh bảo kiếm ấy chắc chắn sẽ nằm trong kho báu nhà Nguyễn mà chính quyền mới có trách nhiệm bảo quản giữ gìn như vừa nói ở phần trên! Nhưng hóa ra chúng có một thân phận khá lạ lùng...
Kho báu nhà Nguyễn từ Hà Nội được chuyển đến nơi an toàn một cách khẩn trương, nhưng sau đó bộ ấn kiếm đã bị bỏ quên tại một ngôi chùa ở mạn ngoại thành! Một điều ít ai ngờ là cuối những năm 50, quân Pháp đã triệt hạ cái làng ngoại thành ấy phá chùa lấy gạch xây bốt. Thế là phát lộ ra bộ ấn kiếm báu! Ngày 3/3/1952, quân Pháp đã tổ chức rùm beng một cái lễ trao ấn kiếm.
Người nhận bộ ấn kiếm ấy là quốc trưởng chính phủ Bảo Đại thay vì vị thế Đại Nam Hoàng Đế! (Hiện Trung tâm Bảo tồn Di tích cố đô Huế còn lưu giữ tấm ảnh ghi lại sự kiện này). Để lưu giữ chắc chắn các báu vật trong Hoàng tộc, ông Bảo Đại đưa bộ ấn kiếm ấy cho bà thứ phi Mộng Điệp mang sang bên Pháp trao cho hoàng hậu Nam Phương và hoàng tử Bảo Long. Bộ ấn kiếm yên hàn được đến thời điểm năm 1963 bà Nam Phương mất.
Mặc dù được giữ cẩn mật tại nhà băng Châu Âu (Union des Banques Européennes) nhưng bộ ấn kiếm ấy đã không yên bởi mâu thuẫn dẫn đến kiện cáo giữa hai cha con ông Bảo Đại. Bởi ai cũng muốn sở hữu thứ quốc bảo ấy nên họ phải nhờ đến tòa án. Tòa phán, ấn thì cha giữ còn kiếm báu Gia Long thì con cầm. Nghe nói vì túng tiền hay lý do chi đó, vị hoàng tử này đã bán mất bộ kiếm báu còn chiếc ấn không rõ có phải là Hoàng đế chi bảo không, nhưng số phận cũng hẩm hiu không kém. Không phải châu về hợp phố mà lại về tay người đẹp Monique Baudot, người vợ mà ông Bảo Đại cưới năm 1982!
Người coi sóc lũ báu vật Nhà Nguyễn
Cách đây đã lâu, để tìm hiểu chiếc ấn Hoàng đế chi bảo và bộ kiếm báu có nằm trong bộ sưu tập của nhà nước mình không, tôi đã tìm tới cụ Đỗ Phạm Huyến nhà ở Xuân Đỉnh, Từ Liêm, Hà Nội.
Căn nhà cổ của cụ Huyến hơn trăm năm trước đã là nhà thờ tổ một chi họ Đỗ. Họa sĩ Nguyễn Đỗ Cung (người có công trong việc sáng lập Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam) một thời gian dài đã ở đây cùng với ông bố. Cụ thân sinh Nguyễn Đỗ Cung là Nguyễn Đỗ Mục cùng nhóm giao du lẫn dịch thuật với cụ Nguyễn Văn Vĩnh. Bà cụ thân sinh Nguyễn Đỗ Cung là chị ruột cụ thân sinh ra ông. Nên ông với họa sĩ Nguyễn Đỗ Cung là con cô con cậu. Lệ họ Đỗ là lấy họ mẹ làm tên lót.
Nguyễn Đỗ Cung viết thư cho bạn là Văn Tiến Dũng... có thằng em là Đỗ Phạm Huyến ở làng Xuân Đỉnh. Năm 1943 nó đã tham gia Hội truyền bá Quốc ngữ. Năm 1944 tham gia hoạt động Việt Minh ngoại thành rồi sau toàn quốc kháng chiến thì ở khu 10 Phú Thọ làm công tác đoàn thể. Nhờ ông tìm hộ gửi nó vào Vệ quốc đoàn...

Ấn Hoàng đế chi bảo (được coi là Bảo Đại trao cho ông Trần Huy Liệu ngày 30/8/1945) Ảnh: TL

Được sự giới thiệu của ông Văn Tiến Dũng, Đỗ Phạm Huyến theo nghiệp binh đến khi giải phóng Thủ đô. Sau khi chuyển ngành về Bộ Văn hóa, thạo tiếng Pháp lại biết cả chữ Hán nên ông được chọn vào tổ tiếp quản nhà Viễn Đông bác cổ...
Người ta dẫn ông xuống phố Hàng Chuối, nơi có một cơ sở của Bộ Tài chính đóng. Một khu biệt thự. Dưới biệt thự là một tầng hầm... Chật cứng khoảng mờ tối ấy là những hòm gỗ, thùng sắt...
Tại đây ông Huyến mới được biết đó là những vật báu của Triều đình nhà Nguyễn mà chính quyền CS tiếp thu trước kia nay trên quyết định chuyển những báu vật này từ Bộ Tài chính sang nhà Viễn Đông bác cổ tức Bảo tàng Lịch sử bây giờ! Nhiệm vụ của ông Huyến và một người nữa là phải tiếp nhận cụ thể từng món một. Ông không biết những hòm những thùng này đây nằm dưới tầng hầm ở phố Hàng Chuối này bao lâu rồi nhưng các báu vật này từng được lưu giữ ở nhiều nơi trong cuộc kháng chiến trong đó có Liên khu V.
Khoản đầu tiên là các loại ấn. Loại lớn có, nhưng phổ biến cỡ 10 kg (khi đó chưa có loại cân đặc biệt của Bộ Tài chính nên không thể đo chính xác được trọng lượng, chất lượng từng loại ấn một), loại nhỏ hơn 7 rồi 5, 3, 2 rồi 1 kg. Loại ấn bằng ngọc, những bích ngọc, bạch ngọc, thanh ngọc... được phân loại đánh số riêng. Bao nhiêu ấn mỗi loại, ông Huyến không nhớ hết nhưng mỗi ông vua, mỗi một hoàng tử hoàng hậu đều có ấn cho riêng mình.
Thái hậu chi bửu, Hoàng tử chi bửu rồi Hoàng hậu chi bửu vv... Các thứ kim ấn hình thù kích cỡ khác nhau nhưng ông Huyến biết tất cả đều bằng vàng. Vàng 10, vàng 9 non hơn thì 8,5 tuổi. Trên có lưỡng long hoặc độc long để làm núm thứ thì màu nâu thứ thì nâu đen thứ vàng choé tất thảy mọi thứ đều được kê biên đánh số cẩn thận! Ngày nối ngày miệt mài đánh vật với những báu vật như thế, ông Huyến chả dám hé răng với ai nhiệm vụ của mình bởi đã được dặn dò trước!
Kế đó là những đỉnh, chậu, bát, hộp, đồ thờ cúng trong đó có cành vàng lá ngọc. Và đặc biệt là những bộ kim sách. Việc tất tả bấn bíu nhưng ông Huyến vẫn bị ám ảnh bởi những hàng chữ nổi vuông thành sắc cạnh bằng vàng trên những tờ vàng lá nâu xỉn hoặc chói lói. Gáy của những cuốn kim sách ấy được đính lại bằng những khuyên cũng bằng vàng. Gia phả hoàng tộc. Những lời giáo huấn của vua. Đôi khi một bài thơ cổ hoặc thơ của người trong hoàng tộc...
Hơn một tháng đằng đẵng bên những hòm châu báu như thế để tới cái ngày kiểm đếm xong bàn giao xong giữa hai bên. Những thùng báu vật được lặng lẽ chở đến một cái kho của Bảo tàng Lịch sử.
Tai họa
Đúng vào dịp Quốc khánh năm 1961, trên có quyết định trưng bày cuộc triển lãm tại Bảo tàng lịch sử Việt Nam. Nhưng ngoài những người trong cuộc không ai có thể biết được một sự cố khủng khiếp đã xảy ra!
Tại gian trưng bày, một sớm thu như thế, người phát hiện ra một cái ấn vàng mà ông Huyến nghe nói là của Nam Phương Hoàng hậu đã không cánh mà bay! Ông Huyến lúc này lại là người phụ trách phòng kiểm kê bảo quản của Bảo tàng Lịch sử Việt Nam!
Mặc cho những sự trần tình này khác nhưng ông vẫn bị đưa thẳng vào Hỏa Lò. Có lẽ cỡ trọng tội nên chỗ ông nằm thấy bản chính là gian cấm cố  Hoàng Văn Thụ năm xưa. Ba tháng nằm trong đó... Bất chợt nửa đêm có khi về sáng hay giữa trưa ông Huyến bất thần được gọi đi cung. Ngoài những cuộc gọi hỏi liên miên, người ta cũng cho mời một số công an gác cổng một số sứ quán nước ngoài đến để nhận mặt ông với hy vọng mong manh biết đâu họ chợt có lần nào đó thấy ông đem cái ấn ấy bán cho người nước ngoài!?
Ba tháng xà lim đặc biệt rồi tám tháng ở xà lim thường... Mười một tháng nằm xà lim cả thảy... Rồi ông được chuyển sang chế độ giam thường. Ông Huyến đếm tính từng ngày trong Hỏa Lò. Vậy là đã 23 tháng... Một sáng nọ người ta nhã nhặn mời ông về... nhà mình! Đã tóm được bọn ăn cắp. Gian trưng bày triển lãm báu vật, cửa giả tuềnh toàng nên ban đêm chúng mò vào dễ dàng. Có chủ đích ăn cắp ấn đâu mà định khoắng thứ khác nhưng chả có đành thử quơ đại một cái ấn nặng chịch mà chẳng biết nó là thứ chi! May mà chỉ một cái...
Thời gian trong tù, ông Huyến không biết một vụ trộm thứ hai đã xảy ra cũng tại gian trưng bày sau vụ thứ nhất hơn nửa năm. Số là sau khi ẵm cái cục nặng chịch hình thù quái gở ấy ra, bọn trộm cho nó một nhát rồi nhiều nhát búa và mang một mảnh đem đi thử! Trời đất ơi, vàng! Vàng thật! Đợi một thời gian thấy êm êm bởi các nhà chức trách đã tóm được thủ phạm đã giam cứng trong Hoả Lò rồi và chắc chả có hướng điều tra nào khác nên chúng táo tợn mò vào một lần nữa. Hoà trong dòng người tham quan, một thằng đợi đến khi đóng cửa tót lên máng nước ém ở đấy.
Đợi đến đêm thì ra tay. Chắc đợi lâu quá nên hắn thoải mái như ở nhà bèn làm ngay một bãi gần chỗ núp trước khi ẵm một cái ấn khác. Sáng hôm sau người nhà Bảo tàng hoảng tam tinh khi phát hiện vụ trộm. Chả lẽ ông Huyến từ Hỏa Lò độn thổ ra để thực thi vụ này? Nhưng chả khó khăn gì, người ta phát giác ra cái thứ khốn kiếp của thằng trộm kia... Chết cho hắn là mảnh giấy chùi là một lá thư! Lá thư? Chứ sao, thư của một người nhà ở quê gửi cho hắn... Bên an ninh tài thế, đã tìm được cái địa chỉ từ mảnh giấy nhòe nhoẹt bẩn thỉu ấy! Thằng cầm đầu cũng như đồng bọn bị tóm.
Ông đang kể cái đoạn sau khi ra tù được ông Bộ trưởng Hoàng Minh Giám thân mời lên pha nước cho uống động viên an ủi... Ông Huyến được phục chức trưởng phòng như cũ cũng như giữ nguyên Đảng tịch. Tiền lương ông được truy lĩnh nhưng phải trừ vào số tiền cơm tù 23 tháng trong Hoả Lò!? Bây giờ ông Huyến nhớ lại đâu như mười mấy đồng một tháng...
Ngó cái xương bả vai của ông khó nhọc lên xuống theo nhịp thở, tôi tưởng như nỗi nhọc nhằn của ông vào cái thời điểm chiến tranh Nam Bắc Việt Nam được trao nhiệm vụ đưa những báu vật ấy từ Bảo tàng Lịch sử sơ tán lên Việt Bắc. Trước khi đi lại phải kiểm kê lại bàn giao. Khi yên hàn đưa chúng về Hà Nội cũng thế. Việc trông coi bảo vệ đã có anh em bộ đội nhưng ông phải có trách nhiệm ở lỳ tại đó cùng với họ...
Năm 1979, ông lại phải tháp tùng lũ báu vật ấy từ Bảo tàng Lịch sử theo một toa tàu đặc biệt để chuyển vào phía Nam ngộ nhỡ ngoài này xảy ra điều gì! Bình Trị Thiên khu Năm ra Hà Nội. Hà Nội Thái Nguyên. Thái Nguyên Hà Nội. Hà Nội thành phố
Sài Gòn. Thành phố Sài Gòn- Hà Nội. Những hòm báu vật gập ghềnh bất trắc dằng dặc trên đường thiên lý ấy cấm có suy suyển đi tẹo nào cho đến khi ông Huyến về hưu năm 1992!
Trước khi rời khu vườn và căn nhà u tịch, tôi được ông Huyến cho hay rằng chiếc ấn Hoàng đế chi bảo mà tôi mô tả tường tận hình dáng lẫn trọng lượng cùng bộ kiếm ấy hình như không có trong danh sách trong kho báu? Mà ông Huyến cho biết thêm, có một chiếc ấn được coi là lớn nhất đó là Sắc mệnh chi bảo đâu như trọng lượng mấy trăm lạng vàng thời vua Minh Mạng.
Một vựng tập báu vật nhà Nguyễn, tại sao không?
Bây giờ ngồi viết lại những dòng này thầm tiếc cho người đã hơn ba mươi năm góp phần giữ gìn coi sóc cho kho báu quốc gia mà không có diễm phúc được ngó lại một lần nữa lũ báu vật đã từng đổ mồ hôi và cả nước mắt để giữ gìn coi sóc? Cụ Đỗ Phạm Huyến nay đã là người thiên cổ...
Ngồi mà thầm tiếc (bởi chỉ nghe chứ chưa thấy) khi giở cuốn Ấn Chương Việt Nam của TS Nguyễn Công Việt (GS Hà Văn Tấn đã nhận xét đây là công trình đầu tiên và không gì có thể so sánh được về lĩnh vực ấn chương học) khi ông viết những dòng đại loại như thế này.
Để sánh với Đại Thanh, Minh Mệnh đổi quốc hiệu là Đại Nam; năm 1832 cho khắc con dấu bằng vàng mười (kim tỉ) Hoàng đế chi bảo, Sắc mệnh chi bảo, Trị lịch minh thời chi bảo... Sắc mệnh chi bảo dùng để đóng trên các văn bản phong tặng các nhân thần và sắc cáo cho các quan văn võ công thần, nặng tới 235 lượng vàng, phải có một võ quan khỏe mạnh giúp việc đóng dấu.
Đó là kim tỉ lớn nhất. Mỗi loại ấn tỉ có công dụng khác nhau. Để đóng dấu trên những công văn cho người nước ngoài, Minh Mệnh dùng ngọc tỉ Đại Nam thiên tử chi tỉ, thể hiện rõ tư tưởng độc lập và tinh thần tự hào dân tộc. Còn ngọc tỉ quý và lớn nhất được chế tác vào đời vua Thiệu Trị thứ 6 (năm 1846) gọi là Đại Nam hoàng đế chi tỉ.
Vân vân và vân vân...
Nếu chưa làm được việc triển lãm rộng rãi, thiển nghĩ nên sớm có một vựng tập về kho báu nhà Nguyễn. Dám chắc những thứ như Sắc mệnh chi bảo cùng hàng chục món kim ngọc bảo tỷ trong kho báu quốc gia, ngoài cụ Huyến và một số nhà chức việc do có quan hệ công việc được quan chiêm lẫn được sờ vào hiện vật, tính tới thời điểm này có lẽ chỉ đếm trên đầu ngón tay!
Vậy nên, sẽ như thế nào nếu một bộ vựng tập lần đầu tiên, tất cả các thứ kim ngọc bảo tỷ từ ấn vàng ấn ngọc, kim sách vv... của nhà Nguyễn được công bố?
Không được sờ vào hiện vật nhưng nội những tấm ảnh chụp chi tiết hình dáng các loại ấn với những mặt trên, núm, mặt đế, dấu kiêm lời giới thiệu chi tiết... cũng mang lại cho người xem bao nhiêu là sắc thái biểu cảm! Với điều kiện, kỹ thuật in ấn như nước ngoài vẫn làm nhằm giới thiệu quảng bá rộng rãi sự độc đáo tinh khéo, hội đủ những giá trị nhân văn lịch sử về các giai đoạn thời kỳ nhà Nguyễn (hiện tại đối với xứ mình không khó) chắc chắn sẽ đáp ứng rộng rãi nhu cầu chính đáng của rất nhiều người!
Mong rằng là tại sao chưa chứ chả phải tại sao không?

Lập thu năm Sửu
Xuân Ba

Kim Ngọc Bảo Tỷ của Hoàng đế và vương hậu triều Nguyễn

Giới thiệu sách mới: “Kim ngọc Bảo tỷ của Hoàng đế và Vương hậu triều Nguyễn Việt Nam”

Sách “Kim ngọc Bảo tỷ của Hoàng đế và Vương hậu triều Nguyễn Việt Nam” là một món quà quý của Bảo tàng Lịch sử Việt Nam chào mừng Đại lễ 1000 năm Thăng Long – Hà Nội. Ban Biên tập xin trân trọng giới thiệu cuốn sách tới độc giả.
Cuốn sách do Tiến sĩ Nguyễn Đình Chiến, Phó Giám đốc Bảo tàng Lịch sử Việt Nam; Tiến sĩ Phạm Quốc Quân, nguyên Giám đốc Bảo tàng Lịch sử Việt Nam (nay là Giám đốc Bảo tàng Cách mạng Việt Nam); Tiến sĩ Ngữ văn Hán – Nôm Nguyễn Công Việt, Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu Hán – Nôm, Viện Khoa học Xã hội Việt Nam cùng tham gia biên soạn, cùng với sự cộng tác và giúp đỡ chí tình của các đồng nghiệp.
Kim ngọc Bảo tỷ của Hoàng đế và Vương hậu triều Nguyễn Việt Nam là một phần trong bộ sưu tập đồ ngự dụng cung đình triều Nguyễn. Đây là bộ sưu tập Bảo vật Quốc gia, được Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tiếp nhận từ Triều đình Huế, sau Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công và mới được bàn giao trở lại cho Bảo tàng Lịch sử Việt Nam quản lý năm 2007. Bộ sưu tập chủ yếu là của Vua và Hoàng tộc, như thế, mỗi Bảo vật đã mang tính cung đình và độc bản. Cuốn sách “Kim ngọc Bảo tỷ của Hoàng đế và Vương hậu triều Nguyễn Việt Nam” là ấn phẩm mở đầu trong chương trình nghiên cứu của Bảo tàng Lịch sử Việt Nam đối với sựu tập quý hiếm này; đồng thời, cũng là công bố sưu tập theo định hướng truyền thống, như một phương cách quảng bá lịch sử văn hóa nước nhà tới du khách trong và ngoài nước, bên cạnh những trưng bày chuyên đề và hệ thống trưng bày thường xuyên của Bảo tàng.
Cuốn sách được chia làm 9 phần, bao gồm: chữ viết tắt, Niên biểu Vương triều Nguyễn, Lời giới thiệu, Lời mở đầu, Kim ngọc Bảo tỷ của Hoàng đế và Vương hậu triều Nguyễn Việt Nam, Danh mục Kim ngọc Bảo tỷ của Hoàng đế và Vương hậu triều Nguyễn Việt Nam, Tài liệu tham khảo, Bản ảnh, Bản dập. Trong đó, phần “Kim ngọc Bảo tỷ của Hoàng đế và Vương hậu triều Nguyễn Việt Nam” được các tác giả xếp vào 4 loại chính: Kim Bảo đời Quốc chúa Nguyễn Phúc Chu; Kim Bảo tỷ của các Hoàng đế triều Nguyễn; Ngọc Tỷ và ấn ngà của các Hoàng đế triều Nguyễn; Kim Bảo của các Vương hậu triều Nguyễn.
Trong sưu tập Kim ngọc Bảo tỷ, ngoài 2 Kim Bảo có từ đời Quốc chúa Nguyễn Phúc Chu, hầu hết những Bảo tỷ quan trọng được chế tác vào đầu đời Gia Long đến đời Đồng Khánh, đều được chính sử ghi chép lại.
Sau đây, Ban biên tập xin trân trọng gửi tới độc giả một số hình ảnh về bộ sưu tập Kim ngọc Bảo tỷ trong cuốn sách này.
1. Kim Bảo đời Quốc chúa Nguyễn Phúc Chu


Đại Việt Quốc Nguyễn Chúa vĩnh trấn chi bảo; vàng 8; cao 6,30 cm, cạnh 10,84 x 10,84 cm, dầy 1,10 cm; trọng lượng 64,43 lạng; đúc vào ngày 6 tháng 12 năm Vĩnh Thịnh thứ 5, 1709, đời vua Lê Dụ Tông.
2. Kim Bảo tỷ của các Hoàng đế triều Nguyễn






Quốc gia tín bảo, vàng; cao 9,50 cm, cạnh 10,70 x 10,70 cm, dầy 1,65 cm, đúc vào đời vua Gia Long (1802 – 19 )




Hoàng Đế tôn thân chi bảo; vàng 10; cao 11,10 cm, cạnh 13,77 x 13,77 cm, dầy 2,68 cm; trọng lượng 234,43; đúc vào tháng 10, năm Minh Mệnh thứ 8, 1827.



Khải Định Đại Nam Hoàng Đế; bạc mạ vàng; cao 9,75 cm, cạnh 07,55 x 06,34 cm, dầy 0,82 cm; đúc vào năm Bính Thìn 1916.
3. Ngọc Tỷ và Bảo ấn ngà của Hoàng đế triều Nguyễn





Vạn Thọ vô cương; bích ngọc; cao 6,80 cm, cạnh 7,30 x 7,30 cm, dầy 3,20 cm; đúc vào thế kỷ 18; Chúa Nguyễn





Hoàng Đế chi tỷ; bạch ngọc; cao 8,27 cm, cạnh 10,50 x 10,50 cm, dầy 4,22 cm; đúc vào năm Ất Mùi, Minh Mệnh thứ 16, 1835





Khải Định Hoàng Đế ngọc tỷ; thanh ngọc; cao 3,10 cm, cạnh 04,13 x 04,13 cm, dầy 1,75 cm; đúc vào năm Bính Thìn, 1916
4. Kim Bảo của các Vương hậu triều Nguyễn





Từ Dũ Thái Hoàng Thái hậu chi bảo; vàng 8,5; cao 7,91 cm, cạnh 11,75 x 11,75 cm, dầy 1,28 cm; trọng lượng 86,48 lạng; đúc vào tháng 3, năm Hàm Nghi thứ 1, 1885





Lệ Thiên Anh Hoàng hậu chi bảo; bạc mạ vàng; cao 6,28 cm, cạnh 09,92 x 09,92 cm, dầy 1,62 cm; trọng lượng 54,10 cm; đúc vào tháng 6, năm Thành Thái thứ 14, 1902



Đoan Huy Hoàng Thái hậu bảo; bạc mạ vàng; cao 7,50 cm, cạnh 09,65 x 09,65 cm, dầy 1,87 cm; trọng lượng 55,00 cm; đúc vào tháng 2, năm Bảo Đại thứ 8, 1933


Nguồn: Bảo tàng Lịch sử Việt Nam

Ấn Triện Triều Nguyễn

Những chiếc ấn triện Triều Nguyễn lâu nay được nhắc đến khá nhiều song chúng ít được giới thiệu một cách có hệ thống.

(Ảnh 1a)
1. Thời Nguyễn (1802-1945), từ vua, quan ở trung ương đến các chức dịch địa phương đều sử dụng ấn tín, coi đó như là những vật biểu trưng quyền lực và biểu trưng pháp lý của nhà vua và chế độ. Tùy theo địa vị, cấp bậc của người sử dụng; tùy theo tính chất, chức năng của từng loại văn bản phải cần phải sử dụng ấn tín, triều đình nhà Nguyễn đã tạo tác, định danh và ban cấp nhiều loại ấn tín khác nhau, như: tỉ, ấn, quan phòng, đồ ký, kiềm ký, đồ chương, triện...
- Tỉ: là con dấu của vua; đúc bằng vàng gọi là kim bửu tỉ; làm bằng ngọc gọi là ngọc tỉ.
(Ảnh 1b)
- Ấn: là tên gọi chung các loại con dấu của vua quan. Ấn của vua gọi là ngự ấn hay bửu ấn thường được đúc bằng vàng. Ấn của các quan: bố chánh, án sát, tri châu, tri phủ, tri huyện... được đúc bằng đồng. Ví dụ: Chiếc ấn đồng khắc các chữ Hán: Quốc sử quán ấn ở mặt ấn(ảnh 1a) và Tự Đức tam thập niên tạo. Trọng nhất cân tứ lượng ở lưng ấn (ảnh 1b).
- Quan phòng: là con dấu của các quan: khâm sai, tổng đốc, tuần vũ, đề đốc, lãnh binh, đốc học... được đúc bằng đồng.
(Ảnh 2)
- Ðồ ký: là con dấu của các quan: đồng tri phủ (phân phủ), giáo thụ, huấn đạo... được đúc bằng đồng, hoặc tiện bằng gỗ. Ví dụ: các đồ ký bằng gỗ, khắc các dòng chữ Hán: Ích Thông hiệu khí cơ thuyền đồ ký (ảnh 2, bên phải); Tuy An phủ giáo thụ ký (ảnh 2, bên trái); Nghĩa Hành huyện huấn đạo đồ ký (ảnh 3, bên trái) và Nghi Lộc huấn đạo đồ ký (ảnh 3, bên trái). - Ðồ chương: là con dấu của thường dân, chủ yếu là của các văn nhân, nho sĩ, họa gia... dùng để đóng lên các tác phẩm, họa phẩm do họ sáng tác hay thuộc quyền sở hữu của họ, thường làm bằng ngà hay bằng gỗ.
(Ảnh 3)
- Kiềm ký :là con dấu của các chức quan nhỏ, quan trấn thủ các cửa tấn, của ải nơi biên viễn, được làm bằng gỗ.
- Triện: là con dấu của các chức dịch địa phương như: lý trưởng, chánh tổng... được làm bằng gỗ.
2. Bảo tàng MTCÐ Huế hiện sở hữu hơn 30 ấn triện các loại, được làm bằng nhiều chất liệu như: ngà voi, đồng, gỗ...
Ngoài chiếc ấn đồng và những đồ ký bằng gỗ được giới thiệu trên đây, bảo tàng này đang thủ đắc 2 bộ ấn ngà rất đặc biệt:
(Ảnh 4)
a. Bộ ấn thứ nhất, nguyên thủy được thiết trí trong điện Hòa Khiêm (lăng Tự Đức), hiện đang bảo quản trong kho của Bảo tàng MTCÐ Huế. Bộ ấn gồm 2 chiếc ấn bằng ngà, đặt trong hộp khung gỗ, lồng kính, bốn góc bịt đồng. Ðế hộp bằng gỗ gõ, lót vải nhung màu tím. Hai chiếc ấn cùng kiểu thức tạo tác, nhưng khác về kích thước: mặt ấn hình chữ nhật, núm ấn tạo hình rồng đứng; đuôi rồng xoáy, mang đặc trưng của đuôi rồng thời Nguyễn; chân rồng có 5 móng (ảnh 4); vành ngoài mặt ấn có đường viền nổi khắc chìm đồ án “lưỡng long triều nhật” và 4 đám mây. Theo sách Minh Mạng chính yếu (Quyển XVIII: Pháp độ), những chiếc ấn có kiểu thức trang trí như vậy gọi là ấn tiểu long.
(Ảnh 5)
- Ấn thứ nhất cao 7,4cm; mặt ấn dài 7,7cm, rộng 6cm; khắc nổi 3 dòng chữ Hán, kiểu chữ triện: Tự Ðức ngự lãm chi bửu: Ấn vua Tự Ðức (để đóng vào) văn bản vua (đã) xem xét) (ảnh 5, ấn bên trái).
- Ấn thứ hai cao 5,8cm; mặt ấn dài 7cm, rộng 4,9cm, cũng khắc nổi 3 dòng chữ Hán, kiểu chữ triện:Ðộc thư bất cầu thậm giải: đọc sách không cần tìm hiểu sâu xa (Ảnh 5, ấn bên phải). Câu này lấy chữ trong bài Ngũ liễu tiên sinh truyện của Ðào Tiềm, ẩn sĩ nổi tiếng đời nhà Tấn (265-420) bên Trung Hoa, tả sự thanh cao, nhàn nhã của kẻ sĩ. Nguyên văn câu này như sau: Văn tĩnh thiểu ngôn, bất mộ vinh lợi, hiếu độc thư bất cầu thậm giải: Nhàn nhã ít nói, không ưa danh lợi, thích đọc sách mà không cần tìm hiểu sâu xa.
Ảnh 6
b. Bộ ấn ngà thứ hai hiện đang trưng bày trong điện Long An, tòa nhà trưng bày chính của Bảo tàng MTCÐ Huế, cũng đặt trong chiếc hộp có kiểu thức y hệt chiếc hộp đựng ấn ở lăng vua Tự Ðức. Ðế hộp khoét lõm 4 ô hình vuông và 3 ô hình bầu dục, lót vải nhung tím, là chổ để những chiếc ấn. Căn cứ vào các ô để ấn trên đáy hộp, có thể xác định: nguyên thủy bộ ấn này gồm 7 chiếc, gồm 4 chiếc ấn mặt vuông vát góc và 3 chiếc ấn mặt bầu dục. Vì lý do nào đó, 1 chiếc ấn mặt bầu dục đã bị thất lạc, nên bộ ấn chỉ còn 6 chiếc (ảnh 6).
Núm của 4 chiếc ấn mặt vuông chạm lộng hình rồng mây (ảnh 7), cùng một kiểu thức, nhưng khác về kích thước. Núm của 2 chiếc ấn mặt bầu dục đều tạo dáng hình rồng.
- Ấn thứ nhất trong bộ ấn ngà này khắc nổi 3 dòng chữ Hán, kiểu chữ triện: Phác nhi văn đạm nhi vị: Ðơn sơ mà văn vẻ, đạm bạc nhưng ý vị (ảnh 8).
Ảnh 7
- Ấn thứ hai khắc chìm 3 dòng chữ Hán, 2 dòng phía ngoài mỗi dòng 2 chữ, dòng giữa 3 chữ, kiểu chữ triện: Học vu cổ huấn nải hữu hoạch: Học theo phép tắc xưa mới có được kết quả (ảnh 9).
- Ấn thứ ba khắc nổi 3 dòng chữ Hán, 2 dòng phía ngoài mỗi dòng 2 chữ, dòng giữa gồm 3 chữ, kiểu chữ triện: Giám vu thành hiến vĩnh vô khiên: Xét theo phép tắc đã có (sẽ) mãi mãi không lầm lỗi (ảnh 10).
- Ấn thứ tư khắc nổi 3 dòng chữ Hán, kiểu chữ triện: Lục hào Khiêm quái giai cát: Quẻ Khiêm có 6 hào đều tốt (ảnh 11).
- Ấn thứ năm khắc nổi 4 chữ Hán, xếp theo hình thoi, kiểu chữ triện: Hóa cửu đạo thành: Dạy lâu thì thành đạo) (ảnh 12, bên phải).
Ảnh 8
- Ấn thứ sáu khắc chìm 4 chữ Hán, xếp theo hình thoi, kiểu chữ triện: Vô sở kỳ dật: Không có điều gì là vượt quá (ảnh 12, bên trái).
Cả 4 chiếc ấn mặt vuông đều có đường viền bên ngoài, khắc hình hai con rồng, kiểu tiểu long. Ðầu rồng hướng lên phía trên, chầu hình quẻ Khôn ở giữa 2 mặt trời. Phía dưới, giữa 2 đuôi rồng là hình quẻ Càn, 2 bên có hình mây như ý. Mặt của 2 chiếc ấn hình bầu dục, do đường viền rất mảnh nên 2 hình tiểu long được trang trí trực tiếp lên mặt ấn: một hình khắc chìm và một hình khắc nổi, và chỉ có biểu tượng của quẻ Khôn và quẻ Càn, không có các hình mặt trời và mây như ý.
3. Qua bước giám định ban đầu, tôi nhận thấy cả 2 bộ ấn ở Bảo tàng MTCÐ Huế đều có chung một phong cách tạo tác, kiểu thức chạm trổ giống và cùng thể thức chất liệu, nghĩa là chúng có cùng niên đại và cùng được một nơi làm ra. Do trong bộ ấn thứ nhất có chiếc ấn mang dòng chữ Tự Ðức ngự lãm chi bửu, nên tôi cho rằng cả 2 bộ ấn này đều được làm dưới triều Tự Ðức (1848-1883).
Ảnh 9
Ngoài chiếc ấn Tự Ðức ngự lãm chi bửu có văn ngôn theo thể thức thông dụng của ấn triện thời phong kiến; văn ngôn trên 7 chiếc ấn còn lại không theo thể văn ngôn thường thấy trên ấn tín thuộc loại công ấn. Chúng không biểu tượng cho uy quyền và tính pháp lý của vua và triều đình, mà chỉ là những câu triết lý sâu xa, theo thể đối từ, cách ngôn, được trích rút từ các điển tích xưa theo những lựa chọn và cảm nhận hoàn toàn riêng tư của chủ nhân những chiếc ấn. Tự Ðức là ông vua mẫn đạt, thông thái, am tường luân lý Nho gia và say mê văn chương. Văn ngôn trên 7 chiếc ấn còn lại cho phép suy đoán chủ nhân của cả 2 bộ ấn này là vua Tự Ðức. Ông đã sưu tầm những câu danh ngôn từ thư tịch xưa, cho khắc lên ấn để thưởng ngoạn và chiêm nghiệm.
Khảo sát bộ ấn 6 chiếc đang trưng bày ở điện Long An, tôi nhận thấy rằng có 2 cặp ấn (4 chiếc) được tạo tác theo thể thức “âm-dương”:
+ Cặp thứ nhất là 2 chiếc ấn khắc các dòng chữ: Học vu cổ huấn nãi hữu hoạch (Ảnh 9) và Giám vu thành hiến vĩnh vô khiên (Ảnh 10). Trong đó, chiếc ấn Học vu cổ huấn nãi hữu hoạch có văn tự và biểu tượng Càn-Khôn được khắc chìm còn các đồ án trang trí được khắc nổi, trong khi chiếc kia có văn tự và biểu tượng Càn-Khôn được khắc nổi còn các đồ án trang trí được khắc chìm. Đem ghép văn ngôn trên hai chiếc ấn này với nhau, sẽ có được một đôi câu đối hoàn chỉnh.
Ảnh 10
+ Cặp thứ hai là 2 chiếc ấn mặt hình bầu dục mang các dòng chữ: Hóa cửu đạo thành và Vô sở kỳ dật (Ảnh 12).Trong đó, chiếc ấn Hóa cửu đạo thành có văn tự, biểu tượng Càn-Khôn và các đồ án trang trí đều được khắc chìm, trong khi chiếc kia có văn tự, biểu tượng Càn-Khôn và các đồ án trang trí đều được khắc nổi. Văn ngôn trên hai chiếc ấn này tuy không đối nhau, nhưng ý nghĩa của chúng bổ khuyết cho nhau khá hài hòa.
- Trong bài Vài nét về kim ngọc bảo tỉ triều Nguyễn của Nguyễn Công Việt in trên Khảo cổ học (Số 2/1995, tr. 19-25), có giới thiệu hình in một chiếc tiểu long bảo (bửu), khắc dòng chữ: Thủ tín thiên hạ văn vũ quyền hành. Theo Nguyễn Công Việt, đây là một chiếc kim bảo tỉ trong một bộ gồm 2 chiếc: một đúc bằng vàng, một đúc bằng bạc, cùng một thể thức, văn ngôn và kích thước. Do viền mặt ấn có khắc hình 2 con rồng nhỏ, nét chạm mảnh, chầu biểu tượng Càn-Khôn, nên sử sách nhà Nguyễn thường gọi là tiểu long bảo. Theo sách Minh Mệnh chính yếu (Quyển XVIII: Pháp độ), các loại ấn tiểu long được dùng để đóng lên đầu các trang giấy trong những đạo chiếu chỉ, nhưng từ năm Minh Mạng thứ 9 (1828), nhà vua đã ban dụ đình chỉ việc sử dụng các loại ấn tiểu long này.
Ảnh 11
Ðối chiếu hình in chiếc ấn Thủ tín thiên hạ văn vũ quyền hành do Nguyễn Công Việt giới thiệu với 2 bộ ấn ngà trên đây, tôi thấy kiểu thức của chúng như nhau: cùng có hình rồng chầu Càn-Khôn; văn tự đều được khắc theo lối chữ triện, kích thước gần tương tự. Duy có 3 điều khác:
+ Thủ tín thiên hạ văn vũ quyền hành thuộc loại kim bửu (bảo) tỉ, được làm bằng vàng (hoặc bạc) còn 8 chiếc ấn trong hai bộ ấn trên làm bằng ngà.
+ Trên mặt ấn Thủ tín thiên hạ văn vũ quyền hành, biểu tượng quẻ Càn nằm ở phía trên và biểu tượng quẻ Khôn nằm ở phía dưới. Trong khi biểu tượng quẻ Càn và quẻ Khôn ở trên 6 chiếc ấn trong bộ ấn ở điện Long An được bố trí ngược lại (Khôn trên, Càn dưới).
Ảnh 12
+ Mặt ấn tiểu long từ triều Minh Mạng trở về trước luôn là hình chữ nhật, nhưng những chiếc ấn tiểu long bằng ngà nói trên thì mặt ấn có cả hình chữ nhật, hình vuông (vát góc) lẫn hình bầu dục.
Từ những nhận xét trên đây, tôi cho rằng đây là 2 bộ ấn ngà do vua Tự Ðức sai chế tác, dựa trên thể thức của ấn
tiểu long của tiên triều, để dùng vào việc văn chương, hoặc để trưng bày trong thư phòng, như một món trong bộ văn phòng tứ bảo của nhà vua. Những chiếc ấn này hoàn toàn không phải là công ấn dùng trong việc trị quốc, mà là một thứ tư ấn hay đồ chương được thửa riêng cho một vị hoàng đế-thi sĩ. Chúng xứng đáng được nhìn nhận như những vưu vật còn may mắn sót lại trên đất Cố đô.

Trần Đức Anh Sơn (netcodo.net)

Ấn Triện

Ấn chương 印章 (con dấu, con triện) là một nét văn hóa rất độc đáo của Trung Quốc. Khắc ấn là một nghệ thuật, nghiên cứu và giám định ấn là một môn học hẳn hoi. Ấn có thể bằng vàng, đá quý, ngà, xương. Ấn dùng trong công văn giấy tờ đã đành, nhưng ấn có thể kết hợp với thư 書 (thư pháp) và họa 畫 (tranh thủy mặc), chúng bổ túc nhau mà tương hỗ tương thành 相互相成. Một bức họa có thư pháp và một hoặc nhiều ấn chương trở thành một chỉnh thể gọi là «kim thạch thư họa cộng nhất thể» 石書畫共一體 (ấn triện bằng đá hay vàng, thư pháp, hội họa hợp nhất thành một thể).
Ấn vàng của Hán Văn Đế. Ấn văn là:
Văn Đế hành tỷ 文帝行
Ấn ngọc đời Tây Hán. Ấn văn là:
Hoàng hậu chi tỷ
皇后之璽
Trong sinh hoạt hàng ngày, người Trung Quốc phân biệt hai loại ấn chương: công và tư. Ngoài ra tư ấn còn có danh chương 名章 (khắc tên, biệt hiệu tác giả) và nhàn chương 閑章 (có nội dung đa dạng). Chúng có hình vuông, tròn, chữ nhật, bầu dục, đa giác.
Ấn chương là một yếu tố quan trọng của một bức thư pháp hay một bức họa. Đặt đúng vị trí, ấn chương tôn thêm giá trị của tác phẩm; ngược lại, sẽ làm hỏng nó. Nghiên cứu kỹ ấn chương, người ta có thể giám định một bức thư họa là chính bản hay ngụy tạo.
âm văn 陰文 (bạch văn 白文):
chữ trắng trên nền đỏ.
Nguyên tắc khắc ấn triện là khắc chìm hoặc khắc nổi. Khắc chìm, ấn chương khi in ra có nét chữ trắng (gọi là âm văn 陰文, bạch văn 白文) trên nền đỏ. Khắc nổi, ấn chương khi in ra có nét chữ đỏ (gọi là dương văn 陽文, chu văn 朱文) trên nền trắng. Nói chung, thời Tiên Tần ấn triện chủ yếu là âm văn (tức là khắc chìm). Vật liệu làm ấn triện thay đổi khác nhau. Từ thời Tần-Hán, vật liệu làm ấn thay đổi nhiều về ngoại hình ấn triện lẫn chữ khắc bên trong. Thời Nam Tống-Bắc Tống, khắc ấn thêm phát triển vì nhiều thư pháp gia và họa gia kiêm luôn nghề kim hoàn (để đúc ấn bằng kim loại quí) hoặc nghề làm đá (để làm ấn bằng đá quí). Do đó mà có kim ấn, thạch ấn, ngọc ấn.
dương văn 陽文 (chu văn 朱文):
chữ đỏ trên nền trắng.
Các cách đúc ấn vàng thời Tống-Nguyên đã lạc hậu. Thời Minh-Thanh ngọc ấn rất đa dạng. Những ấn bằng đá quí như kê huyết, điền hoàng hoặc các loại đá phổ thông như thọ sơn thạch (của huyện Thọ Sơn tỉnh Phúc Kiến), thanh điền thạch (của huyện Thanh Điền tỉnh Chiết Giang) v.v. đều là văn phòng chi bảo. Vật liệu khắc ấn cũng có thể là thủy tinh thạch, ngọc thạch, ngà voi, xương thú, sừng trâu, hồng mộc. Ngày nay cũng có người dùng êbônic hoặc gốm sứ làm ấn. Do bảo vệ môi sinh, người ta có lẽ sẽ dùng một chất nhân tạo tổng hợp nào đó để làm ấn.
Mỗi thư họa gia có không ít ấn chương, như Tề Bạch Thạch cả chục biệt hiệu nên số ấn chương cũng nhiều chẳng kém. Bản thân ông cũng làm nghề khắc ấn mưu sinh, nên có nhiều ấn cũng không lạ. Bát Đại Sơn Nhân có khoảng 30 ấn, phân làm danh chương và nhàn chương (như đã nói trên). Nhàn chương phản ảnh tư tưởng và tâm trạng tác giả trong một giai đoạn đặc biệt nào đó trong đời ông ta. ấn văn (nội dung của ấn) có thể là một danh ngôn, hoặc do tác giả đặt ra để bày tỏ nỗi lòng hay ý chí. Chuyên gia về ấn có thể xác định ấn được khắc vào khoảng thời gian nào trong cuộc đời tác giả. Chuyên gia Chu Sĩ Tâm (HongKong) đã bỏ công nghiên cứu khoảng 30 ấn chương của Bát Đại Sơn Nhân và phân tích tỉ mỉ ấn văn của từng con ấn, thật là kỳ công. Thí dụ, có một ấn của Bát Đại Sơn Nhân mà ấn văn chỉ có một chữ 驢 (con lừa). Bấy nhiêu đó cũng đủ hiểu tâm trạng của đại thư họa gia này. Bát Đại Sơn Nhân mang tâm trạng u uất của một di thần nhà Minh khi Nhà Thanh thành lập. Ông trở nên điên loạn, khi làm tăng khi làm đạo sĩ, nét bút cuồng phóng, cho nên lấy chữ lư là mượn ý của Trần Đinh Sơn Nhân: «Ta nay là thày chùa rồi, sợ gì mà không lấy biệt hiệu là Sơn Lư 山驢 (lừa núi).» Do đó bức tranh hay thư pháp nào của Bát Đại Sơn Nhân có ấn văn 驢 thì nó đã được sáng tác từ lúc ông đi tu vậy.
Các ấn chương chằng chịt trên một bức tranh cổ chứng tỏ tác phẩm đã qua tay rất nhiều đời chủ.
Trên đây là một thí dụ nhỏ. Kỳ thực, mỗi thư họa gia cố tự tạo ấn triện của mình có bản sắc riêng, khi đóng lên tác phẩm, coi như là «chứng thực chính bản» của tác giả. Việc giảo nghiệm một tác phẩm thư họa Trung Quốc trở nên khó khăn là thế. Ngoài việc xem xét chất liệu vải, lụa, hay giấy, người ta còn xem bút pháp, chữ ký cùng với tính cách của ấn chương nữa. Sự khó khăn càng tăng vì số ấn chương của một tác giả có thể rất nhiều và người ta không rõ hết nội dung của chúng (ấn văn). Ngoài ra người chủ mua bức thư họa về có quyền đóng lên đó ấn chương của riêng mình. Qua một đời chủ là tác phẩm mang thêm một hai ấn chương. Đó là lý do ta thấy tác phẩm thư họa cổ thường có nhiều ấn chương chằng chịt.
Trên đây là những điều hết sức cơ bản về ấn chương. Ta cần nhớ mấy điểm chính về các loại ấn chương như sau:
1/ Nhàn chương 閑章:cũng gọi dẫn thủ chương引首章 (vì đóng ở đầu tác phẩm) hoặc tùy hình chương 隨形章 (vì tùy theo hình dạng có sẵn của cục đá mà khắc ấn). Gọi là nhàn thực tế chẳng nhàn chút nào. Thí dụ, đi mừng một đám cưới, ta tặng một tấm hoành phúc (tức hoành phi) với đại tự «Mỹ ý diên niên» 美意延年 nhưng nội dung nhàn chương là «khổ trung lạc» 苦中樂 (sướng trong cảnh khổ) thì khác nào tát nước vào cô dâu chú rể. Nội dung nhàn chương phải phù hợp nội dung tác phẩm. Nói chung, khi đem tác phẩm mừng tặng ai, nhàn chương với nội dung «như ý cát tường» 如意吉祥 là an toàn và bảo đảm nhất. Trong số nhàn chương cũng phân ra mấy loại:
a- Niên hiệu chương 年號章: Ghi giáp tý 甲子, ất sửu 乙丑, bính dần 丙寅, nhất cửu cửu bát niên 一九九八年, v.v.
b- Nguyệt hiệu chương 月號章: Ghi tên tháng như hoà nguyệt 和月, cốc vũ 谷雨, thịnh hạ 盛夏, v.v.
c- Trai hiệu chương 齋號章: Ghi tên hiệu của thư trai 書齋 (phòng đọc sách) của ta như Mặc Nhân Cư 默人居, Thụy Đức Thảo Đường 瑞德草堂, Tích Tự Các 積字閣, v.v.
d- Nhã thú chương 雅趣章: Nội dung loại này rất đa dạng, ghi nỗi lòng, hoài bão, ý chí, danh ngôn, phương châm v.v. Thí dụ: Lạc nhi khang 樂而康 (vui vẻ mạnh khoẻ), khổ trung lạc 苦中樂 (sướng trong cảnh khổ), thiên địa tâm 天地心 (lòng trời đất), mặc thú 墨趣 hay mặc lạc 墨樂 (thú vui thư pháp), thần công 神功, cần phấn 勤奮 (siêng năng cố gắng), khổ công 苦功 (công phu khổ luyện), trị học 治學 (chuyên học), tửu trung tiên 酒中仙 (tiên trong rượu), thanh thú 清趣 (thú vui thanh nhã), sư cổ bất nệ 師古不泥 (noi theo xưa mà không câu nệ), thư đức 書德 (đức viết chữ), tinh cần 靜勤 (tinh chuyên và cần mẫn), phúc thọ 福壽 , mặc hương 墨香 (hương thơm của mực), quan viễn 觀遠 (nhìn xa), v.v.
2/ Yêu chương 腰章: Đối với một bức trung đường (trực phúc, tức là tấm hình chữ nhật đứng, kiểu portrait) mà quá dài, dù có đóng dẫn thủ chương rồi thì vẫn cảm thấy trống trải. Ở ngang thắt lưng tác phẩm ta đóng thêm một ấn. Ấn chương đóng ở ngang lưng bức thư pháp gọi là yêu chương [yêu 腰: eo thắt ngang lưng]. Yêu chương phải nhỏ hơn nhàn chương và danh chương, có thể hình chữ nhật, vuông, hoặc tròn.
3/ Danh chương 名章: Ấn chương khắc tên hoặc tự hiệu của tác giả, đóng dưới hạ khoản. Có thể đóng hai ấn chương nội dung khác nhau, nhưng tốt nhất là một ấn bạch văn và một ấn chu văn. Thí dụ, ấn văn có thể là: Lê ấn 黎印, Anh Minh ấn 英明印, Anh Minh chi ấn 英明之印, Lê Anh Minh ấn 黎英明印. Các chữ này khi đã in trên giấy phải theo thứ tự ngược chiều kim đồng hồ thì mới đúng qui cách.

Vietsciences- Lê Anh Minh

XÁC ĐỊNH NIÊN ĐẠI CỔ VẬT BẰNG CÁCH ĐO PHÓNG XẠ ĐỒNG VỊ CARBON 14

Có 1 sự hiểu lầm rất lớn về phóng xạ đồng vị C14 ngay cả đối với nhiều người sưu tập cổ vật hoặc dân chơi cổ ngoạn. Người ta cứ nghĩ đơn giản là muốn biết tuổi cổ vật một cách chính xác chỉ cần "thử C14" là xong.
Thực ra phương pháp đo phóng xạ đồng vị C14 chỉ áp dụng cho các cổ vật có nguồn gốc hữu cơ hay nói khác đi các sinh vật mà thôi, không thể dùng phương pháp này trực tiếp cho các cổ vật không có sự sống như vàng, bạc, đồng, sắt, đá, gốm, sứ, … đơn giản là vì chúng không có C14 không bền, chỉ có C12 vững bền mà thôi. Cùng lắm chỉ gián tiếp dùng phương pháp này đo "xác" thực vật nằm chung với những đồ vật trên trong cùng một tầng văn hóa mà thôi.
Chẳng hạn năm 1924, L. Pajot, một viên chức thuế quan và cũng là nhà sưu tầm cổ vật đã phát hiện di chỉ văn hóa Đông Sơn tại xã Đông sơn thuộc vùng sông Mã tỉnh Thanh Hóa. Ban đầu người ta chưa gọi là văn hóa Đông Sơn, bản báo cáo của ông V. Galoubew, một tác giả người Pháp thuộc trường Viễn Đông Bác Cổ, gọi là văn hóa thuộc "thời đại Đồng Thau ở Bắc kỳ và Trung kỳ".
Mãi tới năm 1934, lần đầu tiên thuật ngữ "Văn Hóa Đông Sơn" được sử dụng do nhà khảo cổ học người Áo tên là R. Heine Geldern. Các cuộc khai quật, khảo cứu từ 1924 đến nay đã phát hiện có khoảng 500 di tích thuộc nền văn hóa Đông Sơn trên cả nước Việt Nam từ biên giới Trung Quốc ở phía Bắc, biên giới Lào ở phía Tây và vùng Quảng Bình ở phía Nam. Các nhà khảo cổ cũng xác định được chủ nhân của nền văn hóa này là cư dân người Việt cổ. Kết quả xét nghiệm trên các mẫu tro than lấy từ tầng địa chất Đông Sơn sâu nhất, nơi phát hiện những hiện vật bằng đồng thau, ở khu Đồi Đà và chùa Thông, địa diểm tiêu biểu của vùng lúa nước sông Hồng, cho thấy số liệu sau đây : 2704 – 90 (ZK 305) và 2655 – 90 (ZK 309), như vậy người ta có thể xác định được nền văn hóa Đông Sơn bắt đầu từ thế kỷ VIII trước Công nguyên đến thế kỷ I sau Công nguyên – vài nơi khác kéo dài muộn hơn tới thế kỷ II hoặc III sau Công nguyên.
Sở dĩ phải thử than tro nằm chung với đồ đồng Đông Sơn vì đồ đồng không có C14, chỉ than tro từ gốc thực vật mới có. Tại sao thực vật lại có Carbon 14 ? Hạt Nơtron của tia vũ trụ khi tác dụng với nguyên tử Nitơ có đồng vị 14N thì tạo thành 14C không bền. Lượng Carbon 14 (14C) tồn tại cách tự nhiên với tỷ lệ thấp trong Dioxít Carbon (CO2) của không khí mà thực vật hấp thụ để định hình các nguyển tử Carbon mà tạo ra lá, rễ, cành … cây cối do đó có chứa C14 với tỷ lệ thấp như CO2 trong không khí, nhờ hiện tượng quang hợp mà cây cối hấp thụ CO2 có trong khí quyển để sinh trưởng. Trong khí CO2 có 1 phần rất nhỏ 14CO2 (cứ 1 triệu phân tử CO2 chứa Carbon bền thì có 1 phân tử CO2 chứa đồng vị không bền C14) vì phản ứng tạo thành C14 trong khí quyển là liên tục cho nên khi cây cối còn sống hàm lượng của C14 trong đó coi như không đổi.
Khi các động vật ăn cỏ cây thì cũng thu nạp được lượng C14 trong thảo mộc. Loài người hay loài vật ăn thịt như hổ, báo … ăn thịt những con vật ăn cỏ cây cũng thu nạp được lượng C14.
Khi động vật hoặc thực vật chết đi thì việc cung ứng C14 sẽ ngưng lại. C14 vốn không ổn định (khác với C12 vốn ổn định) sẽ từ từ phân rã theo chu kỳ bán hủy T : 5570 năm).
Quá trình xác định tuổi cổ vật dựa trên quá trình phân rã C14 được thực hành như sau : Đo lượng C14 còn lại trong các cổ vật gốc sinh vật (xương, trầm tích, hóa thạch, than tro … rồi đo lượng C14 của vật sống cùng họ đương đại. So sánh 2 bên, rút ra cố C14 chênh lệch, từ đó tính ra tuổi của cổ vật vì chu kỳ bán hủy của C14 là 5570 năm, nghĩa là cứ sau 5570 năm thì lượng C14 trong cổ vật gốc sinh vật mất đi một nửa so với lúc ban đầu. Căn cứ vào các số đó nên các nhà chuyên môn không khó gì tìm ra tuổi của cổ vật. Phương pháp này có mức chênh lệch khoảng từ 50 – 200 năm.
Ví dụ muốn xác định tuổi của một quan tài cổ, người ta lấy một miếng gỗ trên, đo C14, rồi lấy 1 miếng gỗ bằng cỡ đó, cùng loại gỗ nhưng còn mới nguyên đo C14. So sánh 2 số liệu đó để biết C14 trong miếng gỗ áo quan đã mất đi bao nhiêu, còn lại bao nhiêu, giải bài toán phương trình vi phân đơn giản, các nhà chuyên môn biết ngay niên đại của ngôi mộ.
Vấn đề đặt ra cho các nhà sưu tập hoặc chơi cổ ngoạn là máy móc rất đắt, chuyên viên cực hiếm, lại chỉ xác định được những cổ vật có nguồn gốc sinh vật mà thôi, nên hiện tại chẳng ai dám mơ tới. Quả thật nghề chơi cũng lắm công phu !

Viết theo các tư liệu Cổ Vật Tinh Hoa số 30, trang 6-7, bài của Nguyễn Quốc Bình-Truyện kể 109 nguyên tố hóa học, trang 10, NXB Giáo Dục 2006 của Trần Ngọc Mai

Tượng Trần Hưng Đạo bằng đồng

Photobucket
Mới phát hiện tượng Trần Hưng Đạo bằng đồng
ở vùng châu Ô châu Lý cũ


Pho tượng đồng tôi được chiêm ngưỡng quả là một phát hiện hiếm có. Tượng mô tả một người ngồi trên bệ ngai hai tay đeo tràng hạt nắm vào nhau theo tư thế bắt quyết, mặt hơi ngẩng thể hiện dung nhan đày đặn, sáng sủa, tươi tắn, khoan dung với cặp môi cười mỉm và đôi mắt mở to. Điều mới mẻ của pho tượng là phong cách thể hiện phối trộn những yếu tố nghệ thuật trang trí đồ đồng truyền thống ở Tây Nguyên, nghệ thuật Chăm Pa và nghệ thuật làm tượng Đại Việt . Đây là một pho tượng ngồi với tổng chiều cao khoảng hơn 60cm. Phần thân người được khoác bộ trang phục nhà quan với chiếc áo khoác ngoài có phần cổ cánh sen trang trí hoa văn, trước ngực sẻ hình chữ T ngược thường thấy trong các tượng làm bằng gỗ hay đất thời Lê. Đoạn thắt lưng có ngấn đai với vạt phủ thả giữa hai chân. Phía sau lưng thể hiện rõ đai áo và tấm đỡ lưng hình chữ nhật, đặc biệt là hai cánh nách áo cạnh lưng rất tiêu biểu của trang phục đời Lê đã được khai quật trong các mộ hợp chất thế kỷ 17,18 và thường mô tả trong các tượng vua quan trong các đền chùa đồng bằng bắc bộ. Phần chân ngồi thể hiện khá rõ hai lớp trang phục, phía trên là phần áo dài khoác ngoài, phía dưới bên trong là gấu quần thụng phủ lên đôi hài mũi cong nhẹ. Đôi hài cũng mang phong cách trang trí tượng đồng bằng bắc bộ.

Nếu chỉ nhìn bức tượng từ phần cổ trở xuống, ta dễ dàng nhận ra sự quen thuộc với các tượng trong các đền chùa miền Bắc nước ta ở thời Lê, Trịnh. Tuy nhiên, cách trang trí bệ ngồi và nhất là cung cách thể hiện nét mặt và chiếc mũ cánh chuồn phản ánh tính địa phương rõ nét của nghệ nhân làm tượng.
Bức tượng thể hiện một người đàn ông không có râu, không lông mày, mắt rộng hơi nhếch cười nhưng không có con ngươi và nếp mí, mang phong cách chân dung tượng Chăm rất điển hình. Trên đầu bức tượng đội mũ cánh chuồn, nhưng không giống các mũ cánh chuồn miền Bắc mà được tạo một bản hình tròn ở trên và hai cánh cong như lá cây ở hai bên. Chính giữa bản tròn phía trên là đồ án trang trí gồm hai hình chữ C soắn hai đầu úp lưng vào nhau tương tự đồ án điển hình của những chiếc “hộ tâm phiến” bằng đồng trong văn hóa Đông Sơn. Phía dưới là một bông hoa đào bốn cánh ở giữa có gắn một viên đá quý màu xanh đen. Viền trang trí trên mũ cánh chuồn thống nhất chung với mọi băng viền trang trí trên bệ ngai tượng, đó là viền băng hình quấn thừng đối xứng giống như các nhánh đôi của bông lúa mạch. Băng trước trán cũng được trang trí tương tự, nhưng được bổ sung thêm một băng phía trên tạo bởi những hình chữ C soắn hai đầu nằm ngửa. Cách trang trí hình soắn thừng (hay hình bông lúa) và hình sợi dây cuốn chữ C và chư S soắn hai đầu là phong cách điển hình của nghệ thuật Tây Nguyên. Trên cổ bức tượng là một vòng hạt chuỗi gần giống tràng hạt của tăng lữ. Tràng hạt như vậy còn thấy được đeo trên hai cổ tay bức tượng tôn thêm vẻ thánh thiện mộ đạo của nhân vật.Bức tượng được bảo tồn gần như nguyên vẹn. Tuy nhiên khi xem xét kỹ chúng tôi nhận thấy hai bàn tay bắt quyết trước ngực dường như cầm nâng một vật gì đó đã bị gẫy từ trước. Có thể đó là một thanh kiếm. Như vậy, xét trang phục, mũ đai có thể nhận ra tư thế của một vị quan, nhưng cách thể hiện khuôn nét mặt lại như một vị thánh. Điều này đã được giải mã nhờ những dòng chữ khắc chìm sau lưng bức tượng.
Phía sau bức tượng, nghệ nhân đã khắc chữ thành 4 dòng với tổng số 9 chữ. Dòng trên cùng có 4 chữ Đại Vương Thượng Thầnkhắc ở phía trên tấm đỡ lưng hình chữ nhật. Điều đáng lưu ý là chữ Đại sai chính tả. Đó là chữ Đại mang nghĩa Đời, Thời Đại chứ không phải chữ Đại là to lớn, vĩ đại trong nghĩa đúng của chữ Đại Vương. Dòng thứ hai gồm ba chữ Trần Hương Đạođược khắc ở chính giữa tấm đỡ lưng, ngay trên đai thắt lưng. Lưu ý là Hương chứ không phải là Hưng. Dòng thứ ba có một chữ Trần khắc ở bên dưới đai thắt lưng. Dòng thứ tư có một chữkhông đủ nét, có thể là chữ Thần (?) khắc ở chính giữa phía dưới bên ngoài tấm đỡ lưng.
Nhờ những chữ này mà việc giám định và định danh bức tượng được dễ dàng hơn rất nhiều. Rõ ràng đây là một bức tượng Trần Hưng Đạo. Theo chủ nhân bức tượng thì người dân vùng Quảng Trị đã đào được báu vật này trong một am gạch trong vùng. Nghiên cứu cách phát âm của nhiều địa phương miền trung (kể từ Hà Tĩnh trở vào) cho thấy chữ Hưng thường đọc là Hương. Việc khắc chữ Trần Hương Đạo thay cho Hưng Đạo phản ánh rõ vùng đất đã đúc ra bức tượng này là vùng miền Trung ở thời điểm còn mang đậm phong cách nghệ thuật Chăm Pa và Tây Nguyên. Nét chữ khắc chân phương nhưng không nhà nghề lại sai chính tả đã chứng tỏ tính dân dã của thợ tạo tượng. Vậy nguồn gốc và niên đại bức tượng này thế nào?
Như đã phân tích ở trên về trang phục bức tượng ta nhận thấy nhiều yếu tố phong cách trang phục Lê Trịnh đàng Ngoài. Tuy nhiên cách thể hiện phần đầu, mặt người và trang trí ngai ngồi lại phản ánh rõ nét tính địa phương miền Trung, đàng Trong. Thông tin của chủ nhân bức tượng về nơi phát hiện là vùng Quảng Trị theo tôi là khá phù hợp. Kích thước tượng chỉ phù hợp với những điện thờ dòng họ. Và điều đó gợi ý hướng tìm tòi nguồn gốc bức tượng từ những quan lại họ Trần đã theo chúa Nguyễn vào khai khẩn xứ Đàng Trong ở thế kỷ 16-17.
Theo sách Ô Châu Cận lục của Dương Văn An, người sống ở thế kỷ 16 thì từ cuối đời Trần, đặc biệt dưới thời khuynh loát của Hồ Quý Ly, vùng Thuận Quảng đã có nhiều dòng tộc người Việt vùng Hoan Diễn (Nghệ An, Hà Tĩnh) vào khai khẩn cùng người địa phương. Trong đó họ Hồ và họ Trần chiếm số đông và thuộc vào những danh gia vọng tộc trong vùng với hàng chục nhân sĩ họ Trần, nhiều người khi đó đã được lập đền thờ. Vào thời bắt đầu xưng vương của chúa Nguyễn ở Thuận Quảng nổi lên vai trò của một viên quan họ Trần cai quản vùng Quảng Bình, Quảng Trị ngày nay, đó là Trần Đức Hòa. Chính vị quan này đã có công lớn chiêu nạp Đào Duy Từ dưới trướng vào năm 1625 rồi hai năm sau (1627) giới thiệu Đào Duy Từ với chúa Sãi Nguyễn Phúc Nguyên. Tương truyền, Trần Đức Hòa thuộc dòng dõi nhà Trần, làm quan và theo chúa Nguyễn vào trấn thủ Thuận Hóa. Rất có thể ông có liên hệ với dòng họ Trần Đức ở Nghệ An.

Phân bố đền thờ Trần Hưng Đạo dày đặc ở miền bắc nước ta. Tuy nhiên vắng bóng ở vùng châu Ô châu Lý. Việc đưa tượng Trần Hưng Đạo vào thờ ở vùng Chăm Pa cũ như một Thượng đẳng thần rõ ràng gắn liền với những quan lại họ Trần trong vùng mà một trong những nhân vật họ Trần có nhiều uy tín và thế lực nhất ở vùng đất Thuận Quảng ở thế kỷ 17 là Trần Đức Hòa. Vì thế có cơ sở để nghĩ rằng Trần Đức Hòa đã cho thợ địa phương đúc tượng này để thờ vọng Đức Thánh Trần như cung cách người Việt ở Đàng Ngoài. Một số nhà sưu tầm lâu năm nhận định căn cứ vào hoa văn, mũ cánh chuồn trông rất lạ và bề dày của bức tượng (khoảng 2cm) mà lớp patin lên bóng cho rằng pho tượng này nằm ở thế kỷ XIV. Đó cũng chỉ là một nhận định ban đầu.
Đây là một phát hiện rất có giá trị cả về lịch sử lẫn mỹ thuật. Gần như chúng ta chưa bao giờ phát hiện tượng đồng Trần Hưng Đạo trong thời Phong Kiến. Đây lại là pho tượng phân bố ở một vùng cách xa khu vực tập trung đền thờ Trần Hưng Đạo, được tạo tác ở niên đại khá cổ xưa với phong cách mỹ thuật phối trộn giữa phong cách thể hiện trang phục Lê Trịnh đằng Ngoài với phong cách nghệ thuật truyền thống Chăm Pa và Tây Nguyên. Điều vô cùng đáng quý nữa là bức tượng được bảo rồn khá nguyên vẹn. Trên thân tượng phủ lớp patin gỉ đồng màu xanh đôi chỗ còn giữ được lớp tô màu vàng phủ trên các nếp áo. Hy vọng trong một thời gian gần đây chủ nhân bức tượng sẽ tạo điều kiện để đông đảo nhân dân cũng như các nhà nghiên cứu lịch sử, mỹ thuật có thể chiêm ngưỡng kiệt tác vô giá này.

Bài viết: Nguyễn Việt,
Hiện vật sưu tầm: Nguyễn Văn Phẩm.