Tuesday, April 13, 2010

Cổ vật Việt Nam tại viện bảo tàng Norton Simon và Sotheby's

Photobucket
Photobucket
Photobucket
Photobucket

Photobucket
Photobucket
Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket
Photobucket

Photobucket

Photobucket
Photobucket

Photobucket
Photobucket
Photobucket

Photobucket

Topaz Gemstone -

Photobucket

Tên gọi : Bắt nguồn từ tên gọi của đảo Topazó ở Biển Đỏ.Tên gọi khác, biến thể : Topaz hoàng đế (Topaz  Brazil màu vàng phớt hồng). Đá hạng nặng (Tên gọi cũ của topaz ở vùng Ural). Ngọc vàng , hoàng ngọc.
Những đặc điểm chính : Topaz thường không màu , phớt xanh da trời , xanh hồng , vàng, vàng anh đào và vàng ánh kim. Loại màu vàng với ánh đục mờ đặc trưng gọi là ánh "mắt mèo". Màu sắc của đá được quy định bởi tạp chất chứa titan, sắt và crom .
Tính vật chất : Độ cứng : 8,0 .Tỷ trọng : 3,41 – 3,57 g/cm3 . Ánh : Thuỷ tinh
Tính chất chữa bệnh : Thời trung cổ topaz đươc coi là phương tiện chống đầu độc tốt nhất. Những nhà thạch học trị liệu ngày nay cho rằng topaz bảo vệ con người khỏi cảm cúm, thúc đẩy quá trình tái sinh mô, điều trị bệnh ở các cơ quan của hệ tiêu hoá, gan, túi mật, lá lách. Topaz cũng có tác dụng đối với bệnh mất ngủ và suy nhược thần kinh, loại trừ stress. Loại đá này củng cố hệ thống miễn dịch và được sử dụng để phòng tránh các bệnh tâm lý. Những người sành ăn nên nhớ rằng topaz làm tăng cảm giác ngon miệng.
Tính chất khác : Người ta cho rằng, người đeo topaz luôn có tâm trạng lạc quan, có khả năng vui sống và hưởng thụ cảm giác yên bình. Không phải ngẫu nhiên mà topa được gọi là đá thức tỉnh nội tâm. Nó mang lại cho phụ nữ sắc đẹp, còn cho đàn ông- sự thông thái. Nó xua đuổi cơn giận giữ và lòng hận thù. Topaz có khả năng tập trung và thu hút sự dư thừa vật chất. Về ma thuật, topaz được coi là loại đá có khả năng bảo vệ tránh những "điềm gở", phép thuật của phù thuỷ và tác động của nhiều thông tin tiêu cực khác. Topaz giúp chống lại sự trầm uất và sợ hãi. Nó làm tiêu tan sự nghi ngờ và loại trừ cơn giận giữ. Topaz là biểu tượng của chòm sao Thiên Ất trong cung hoàng đạo, năng lượng chiếu xạ của dương có tác dụng đối với luân xa vùng đỉnh đầu : Nuôi dưỡng các tuyến của não bộ. Luân xa này giúp phát triển tinh thần, tín ngưỡng và các mối liên hệ với sức mạnh tối cao của vũ trụ.
Công dụng khác : Thứ trong suốt có màu đẹp dùng làm đồ trang sức. Ngoài ra còn được dùng trọng kỹ thuật do có độ cứng cao.
Nguồn gốc sinh thành : Thấy trong các hỗng tinh của đá magma axit và đặc biệt trong mạch pegmatit. Thành bao thể nhỏ trong các vành tiếp xúc xung quanh các núi đá xâm nhập. Cộng sinh với fluorin, tuamalin, thạch anh ám khói, beryl , casiterit , felspat  ...

Smoky Quartz Cluster - Thạch anh ám khói

Photobucket

Công thức Si02- Độ cứng theo thang Mohs - Khối lượng riêng : 2.5 - 2.6g/cm3 . Hệ tinh thể ba phương Ánh thủy tinh


Trước đây không lâu , thạch anh ám khói được gọi là rauchtopaz ( theo tiếng đức rauch - " khói " ) Cho đến ngày nay tên gọi này vẫn phổ biến trong giới kim hoàn .Thạch anh ám khói còn được gọi là pha lê thiên nhiên ám khói hoạc Topaz ám khói . Cùng với pha lê tự nhiên xitrin , và ametit thạch anh ám khói là những biến thể quý nhất của thạch anh .Đẹp tuyệt vời là những tinh thể thạch anh ám khói mầu nâu lấp lánh ánh vàng kim có lẫn tạp chất turin và chúng tạo ra hiệu ứng tỏa ánh sao về các hướng .(thạch anh tóc).Trong tự nhiên đôi khi gặp những tinh thể thạch anh khổng lồ nặng đến vài tấn .Mầu sắc thạch anh ám khói thay đổi từ mầu khói nhẹ cho đến mầu nâu sẫm .


TÍNH CHẤT CHỮA BỆNH
Người Hindu cổ đại cho rằng , thạch anh ám khói trục ra khỏi cơ thể con người tiêu cực và cặn bã .Truyền thuyết Ấn Độ kể về mọt cái cốc được làm từ nguyên khối tinh thể thạch anh ám khói có thể chữa khỏi bách bệnh .thạch anh ám khói giúp tránh khỏi stress và mất cảm giác đau . Để nhằm mục đích này , các nhà thạch trị liệu học khuyên nên nắm trong tay tinh thể thạch anh ám khói và chừ cho chúng nóng lên . Có tài liệu cho rằng thạch anh ám khói còn giúp điều trị viêm tuyến tiền liệt và thậm chí cả u xơ tử cung , tuy nhiên những tài liệu này chỉ nên để tham khảo .


TÍNH CHẤT MẦU NHIỆM
Các nhà chiêm tinh học cho rằng , thạch anh ám khói giúp nâng ý nghĩ từ vùng tối tăm của tiềm thức lên tầm của linh cảm và siêu ý thức . Có lẽ không phải vô cớ mà các tín đồ phật giáo Ấn Độ gọi thạch anh ám khói là "đá của phật ".Thạch anh ám khói trung hòa cái trung hòa cái xấu và giảm tính kích thích đồng thời cũng cho rằng với những người hay mơ mộng thạch anh ám khói giúp họ chạy trốn khỏi hiện thưc khi kích thích trí tưởng tượng của họ . Thạch anh ám khói có khả năng bảo vệ chủ nhân của nó tránh điềm gở và sự hư hỏng .


ẢNH HƯỞNG TỚI LUÂN XA
Đối với luân xa vùng xương cùng ; cung cấp năng lượng cho trực tràng , bộ máy năng đỡ - vận động ; giúp tạo ý trí trong cuộc sống , năng lượng thể chất , tiềm năng ; khơi dậy cảm giác vững tin và kiên định .Năng lượng cảm thụ của Am


CUNG HOÀNG ĐẠO
Cung Maket


TÊN GỌI KHÁC BIẾN THỂ
Thạch anh gấu trúc - thạch anh ám khói có những vệt đen trắng xen kẽ
Kerngorm - tên đồng nghĩa của thạch anh ám khói
Morion - thạch anh ám khói rất tối và mầu không trong suốt
Rauchtopaz - Tên gọi cũ của thạch anh ám khói .

Dark smoky quartz - THẠCH ANH ĐEN (morion)

Photobucket


Công thức : SiO2 - Độ cứng theo thang Mohs . khối lượng riêng : 2.6g/ cm3 . Hệ tinh thể ba phương Ánh thủy tinh


Thạch anh đen còn có tên gọi là Morion .Nó gần như không trong suốt ; chỉ cho ánh sáng xuyên qua những lá mỏng . Nguồn gốc của tên gọi Morion không thật rõ ràng .Mỏ thạch anh đen có ở Ukraina , Kazacxtan . Poland . Brazil , Madagatxka .Tại việt nam cũng đã tìm thấy loại thạch anh này ở tỉnh Lâm Đồng nhưng trữ lượng không lớn .

TÍNH CHẤT CHỮA BỆNH
Có những giả thiết cho rằng thạch anh đen có liên hệ vói thế giới bên kia nên có khả năng cai nghiện ma túy .Đưa người nghiện trở về cuộc sống hiện tại .Nhưng thạch anh đen được coi là "thầy thuốc chữa bệnh máu " nó giúp điều trị chứng nhồi máu và chống đột quỵ chống lại những mảng sơ vữa .Thạch anh đen có tác dụng tốt đến bộ máy nâng đỡ - vận động và củng cố cột sống .

TÍNH CHẤT MẦU NHIỆM
Không có gì đáng ngạc nhiên là nhờ có mầu tang tóc mà Morion được nổi tiếng là có liên hệ với những thế lực hắc ám . Nó thường được gắn vào những sản phẩm để tưởng nhớ về những người vừa rời bỏ thế giới này . Có ý kiến còn cho rằng thạch anh đen có khả năng gọi hồn người chết vào những buổi chiều hôn . Thạch anh đen được coi là viên đá của phù thủy , pháp sư và những nhà tiên tri . Có niềm tin rằng nếu dùng Morion vào những mục đích tư lợi cùng với thời gian viên đá sẽ "báo ứng" chủ nhân của nó .Ở những người lương thiện Morion sẽ phát triển trí tưởng tượng và mơ ước .Có thể loại trừ năng lượng tiêu cực trong Morion bằng cách thường xuyên rửa viên đá dưới vòi nước lạnh .

ẢNH HƯỞNG TỚI LUÂN XA
Đối với luân xa vùng đỉnh đầu : nuôi dưỡng các tuyến của não bộ giúp phát triển tinh thần , tín ngưỡng và những liên hệ với thế lực tối cao . Năng lượng cảm thụ của Âm

CUNG HOÀNG ĐẠO
Cung Cự Giải , Bạch Dương .

TÊN GỌI KHÁC BIẾN THỂ
Hạt huyền (smoljak ) tên gọi cũ trong tiếng nga chỉ mầu tối của đá
Tsugan - tên gọi cũ của Morion

Thạch anh pha lê ( Quartz Crystals )

Photobucket

Công thức :Sio2- Độ cứng theo thang Mohs : 7.0- Khối lượng riêng : 2.6 g/cm3 . Hệ tinh thể ba phương Ánh thủy tinh


Pha lê tự nhiên là thạch anh silic dioxit thông thường .Tinh thể pha lê trong suốt và trông giống cột băng một cách lạ lùng .Thuật ngữ pha lê có nguồn gốc tiếng Hy Lạp  "krystanllos" nghĩa là băng . Đến đầu thế kỷ 18 thuật ngữ trên mới được dùng để chỉ khoáng vật . Kích thước của tinh đám pha lê dao động từ vài mm đến hàng mét .tuy nhiên để kiếm được một viên thạch anh pha lê không phải chuyện dễ và nó rất có giá trị .Thạch anh thông thường chỉ có mầu trắng đục và giá trị của thạch anh phụ thuộc vào độ tinh khiết của nó rất nhiều .Mỏ pha lê tự nhiên có rất nhiều ở các nước như Thụy Sỹ ,Pháp, Nga ,  ....ở việt nam cũng đã tìm thấy thạch anh tự nhiên ở Thanh Hóa ,Gia Lai nhung chất lượng không cao , thạch anh có mầu trắng đục ít thấy trong .


TÍNH CHẤT CHỮA BỆNH
Ở Tây Tạng , Mông Cổ và Trung Quốc cổ đại Thầy thuốc đốt cháy vết thương bằng cách dùng ánh sáng mặt trời chiếu qua quả cầu bằng pha lê tự nhiên .Những nhà thạch trị liệu học ngày nay cho rằng ,pha lê tự nhiên làm ổn định thể lực và trí lực của con người .Tinh thể pha lê tự nhiên hỗ trợ tốt cho tủy sống và hoạt động của não bộ , giúp điều trị thiếu máu cục bộ giãn tĩnh mạch và có tác động tích cực đến hệ hô hấp .Bằng sự trợ giúp của pha lê có tác dụng làm giảm các cơn đau và điều trị stress.Pha lê tự nhiên có tác dụng làm giảm các cơn sốt .(pha lê tự nhiên rất mát)
Những nhà cảm xạ học đặc biệt đánh giá cao thach anh nói chung và pha lê tự nhiên chúng tích rất nhiêù năng lượng có ảnh hưởng tích cực đến các luân xa .và sức khỏe .


TÍNH CHẤT MẦU NHIỆM
Quả cầu pha lê là thuộc tính riêng của các thầy phù thủy và các nhà tiên tri . Cho rằng pha lê tự nhiên tập trung sự chú ý ,ăn nói lưu loát hơn và làm cho tư duy trở nên sâu sắc hơn .Những vị Lạt Ma Tây Tạng và nữ tiên tri Vanga (ở Nga ) cũng dùng những quả cầu bằng pha lê tự nhiên .Trong y học Tây Tạng và Ấn Độ , pha lê tự nhiên có vai trò chủ đạo .Cho rằng năng lượng tự nhiên của nó dễ dàng tìm được tần số dao động của người để điều chỉnh và ổn định nó .Quả cầu bằng pha lê được các vị Lạt Ma dùng để khai mở" con mắt thứ ba " họ coi tinh thể pha lê tự nhiên là biểu tượng cho cuộc sống dồi dào .Bởi vì sáu mặt của nó tượng trưng cho sau luân xa của người cùng hướng tới đỉnh - là luân xa thứ bảy ,mà luân xa này lại hướng tói phía trên lên vũ trụ .


ẢNH HƯỞNG TỚI LUÂN XA
Đối với luân xa vùng đỉnh đầu : nuôi dưỡng các tuyến của não bộ ; luân xa này giúp phát triển tinh thần ,tín ngưỡng và có mối liên hệ với sức mạnh tối cao của vũ trụ.Năng lượng cảm thụ của Âm .


CUNG HOÀNG ĐẠO
Cung bạch dương ,Sư Tử và Thất Nữ .


TÊN GỌI KHÁC BIẾN THỂ
Kim cương Arap hoạc kim cương bohemia - Tên gọi cũ của pha lê tự nhiên ở Châu Âu

Thạch anh tím (Crystal Ametit)

Photobucket

Công thức:Si02 Độ cứng theo thang Mosh : 7.0 Khối lượng riêng : 2.6g/cm3 . Hệ tinh thể ba phương Ánh thủy tinh

Thạch anh tím ( Ametit) là dạng biến thể của thạch anh mà mầu sắc có thể dao động từ mầu tía sẫm đến hồng . Thạch anh tím Sri Lanka có ánh tím dịu dàng , Ametit Braxin - màu đỏ máu và tía thạch anh tím từ bán đảo Konski thường có ánh xanh tím (màu hoa tử đinh hương) .
Khi nung nóng đến + 200 độ C, ánh tím biến mất nhưng phục hồi khi nguội đi .Trong nước thạch anh tím tự nhiên khác với thạch anh tím nhân tạo bị mất mầu ở phần rìa . Tên gọi của loại khoáng vật này có liên quan đến câu chuyện thần thoại Hi Lạp cổ đại về ấu trùng (nimpha) Ametit được cứu thoát khỏi sự mưu hại của thần rượu nho Dionis.Nữ thần bảo trợ Atermida đã biến con ấu trùng thành đá quý mà nó trở thành hộ phù để tránh bị say rượu ( Theo tiếng Hi Lạp ametiter nghĩa là không say )


TÍNH CHẤT CHỮA BỆNH
Thời xưa người ta cho rằng thạch anh tím có khả năng bảo vệ chủ nhân chống nhiễm bệnh .Các nhà thạch học trị liệu hiện đại cho rằng việc chiêm ngưỡng thạch anh tím làm giảm sự hưng phấn thần kinh , tạo sự thanh thản và nhờ vậy có tác dụng tốt với bệnh mất ngủ  . Nước ngâm thạch anh tím có tác dụng phục hồi tuần hoàn mạch máu não .


TÍNH CHẤT MÀU NHIỆM
Thạch anh tím - đá của sự thuần khiết , trong trắng và tận tụy .Ở Ai Cập cổ đại thạch anh tím là biểu hiện của sự hạnh phúc và sức khỏe .Ở châu âu là biểu tượng của sự chân thành,thành thật và cởi mở .Ở Ấn Độ là biểu tượng của tình yêu hòa bình. Tinh thể thạch anh tím để giữa hai chân mày giúp cho đầu oc thanh thản ,có sự bình an trong nội tâm .Người ta cho rằng thạch anh tím là chủ khai mở con mắt thứ ba thị thấu ,Thạch anh tím dập tắt nỗi đau về tinh thần và xóa bỏ lo âu ,xoa dịu và làm trong sạch tư duy ,làm đầy linh giác và tạo cho con người sự sáng suốt .Còn có ý kiến cho rằng nhẫn mặt đá thạch anh tím đem lại thành công trong những cuộc thi đấu thể thao .Đồ trang sức bằng thạch anh tím để dưới gối sẽ có nhứng giấc mơ đẹp.


ẢNH HƯỞNG TỚI LUÂN XA
Đối với luân xa vùng trán : tác động đến các cơ quan ở vùng đầu ,luân xa này cũng có liên hệ với các kinh lac ở vùng bàng quang và vùng ruột giúp thực hiện ý tưởng kích thích sự năng động tích cực Năng lượng cảm thụ của Âm .


CUNG HOÀNG ĐẠO
Cung Song Tử Thiên Bình và Thích Bình


TÊN GOI KHÁC BIẾN THỂ
Đá giáo chủ tên goi cũ của Ametit trong tiếng Nga
Đá của giáo đồ Matfey - Tên gọi trong đạo Thiên Chúa .
Đá của thần Bachus tên gọi của thạch anh tím thời trung cổ

Sunday, April 4, 2010

Nếp áo tiểu thừa trên tượng vua Trần Nhân Tông

Photobucket

Phát hiện vết nếp áo tiểu thừa trên tượng vua Trần Nhân Tông



Tiểu thừa còn được gọi là Theraveda (Phật giáo nguyên thuỷ) hay Hinayana, là phật giáo hiện tại ở phần lớn các nước ĐNA : Miến điện, Thái lan, Lào, Cam pu chia, Nam bộ (VN)...Người Kinh theo phật giáo Đại thừa (Mahayana) giống như ở TQ, Triều tiên, Nhật Bản .


Đạo Phật vào ĐNA qua đường biển bắt đầu từ khoảng đầu công lịch, tức là khoảng 500 năm sau khi Phật Thích Ca nhập Niết bàn. Phật giáo theo chân các thương nhân Ấn độ trên đường đi tìm vàng và hương liệu. Các thương nhân Ấn thường theo đạo Phật, vì nếu họ theo đạo Bà la môn một cách " thuần thành " thì không được phép rời Ấn độ, còn trong đạo Phật không có điều cấm kỵ ấy. Cũng có người cho rằng phật giáo xuất dương vì chính sách truyền đạo Phật của vua Ashoka (tiếng việt vua A dục), lại có cả thuyết các đoàn truyên giáo Ấn đã từng đặt bảo tháp, hay cột kinh ở Đồ Sơn (Hải phòng). Khi đạo phật xuất dương như thế thì đó là đạo phật đương đại ở Ấn độ. Lúc đó đạo phật thịnh hành ở Ấn là đạo phật Đại thừa, thậm chí còn là dòng cuối cùng của Đại thừa là Mật tông (Tantrisme) chứ không phải là phật giáo Nguyên thuỷ (theraveda). Như vậy việc phật giáo du nhập vào ĐNA đi theo quá trình ngược lại của phát triển phật giáo ở Ấn độ. Nó bắt đầu bằng Mật tông (Tantrisme), rồi Đại thừa (Mahayana), và cuối cùng là Tiểu thừa (Theraveda). Trong khi theo lịch sử phật giáo thì Theraveda có trước, rồi tới Mahayana cuối cùng là Tantrisme.
Trong quá trình giao lưu văn hoá với các sắc dân bản địa ở ĐNA (người Môn, người Khơ me, người Mã lai, người Piu, người Chàm, người Kinh ,..) văn hoá Ấn độ thâm nhập vào vùng đất này. Ngoại trừ Giao chỉ, tức là miền Bắc và bắc trung bộ VN đã có một hệ thống hành chính kiểu TQ (lúc này là thời Bắc thuộc), các tộc người khác đều chịu ảnh hưởng văn hoá Ấn độ mà lập nước. Nhà nước kiểu Ấn độ đầu tiên được thành lập ở ĐNA còn được ghi lại trong sử (qua các sử gia TQ) là nhà nước Lâm Ấp mà trung tâm của nó là tỉnh Hà tĩnh ngay nay.
Trong các nhà nước này, chính quyền được cấu thành theo kiểu vua Thần (Devaraja), xã hội có đẳng cấp, theo kiểu Bà la môn. Tông phái Bà la môn thịnh hành nhất là phái thờ thần Si va, mà biểu tưởng là cái linga, như người ta còn thấy ở di tích Mỹ sơn, ở các tháp Chàm, hay ở các di tích khác ở các nước ĐNA..Bên cạnh đó tồn tại Phật giáo Đại thừa. Ở vùng đất mà ta quan tâm vì có quan hệ mật thiết với VN là Cam pu chia, Cham pa... thì đạo phật Đại thừa hưng thịnh nhất vào thời vua Jayavarman VII thế kỷ XII. Lúc này phật giáo Đại thừa là quốc đạo ở Cam pu chia (lúc đó là Phù Nam), và cũng đồng thời là quốc đạo ở Cham pa, vì Cham pa bị nội thuộc vào Phù Nam khoảng 20 năm trong thời kỳ này. Sau khi Jayavarman mất thì ở Cam pu chia, quyền lực lại trở về với tông phái Si va của đạo Bà la môn.

Vào thời điểm vua Trần Nhân Tông sang tham Cham pa , rồi hứa gả công chúa Huyền Trân cho vua Chàm lúc này là Chế Mân ở nước này trong cung đình thì theo đạo Bà la môn phái Si va, còn dân chúng nói chung theo đạo Phật đại thừa. Dấu vết của đạo phật đại thừa còn để lại đến ngày nay qua các bức tượng Quan Âm (Avalokitesvara) hay tượng Bát nhã ba la mật đa (Prajnaparamita). Một trong hai biểu tượng lớn nhất của phật giáo Đại thừa. Tượng Bát nhã Ba la mật đa thường là tượng có hình phụ nữ. Loại tượng này không tồn tại ở Đại Việt cũng như là ở các nước Đông Á theo phật giáo Đại thừa khác như Nhật, Triều tiên, Trung quốc. Còn tượng Quan Âm thường được tạc với hình đàn ông hay thuộc dạng , chứ không phải là " phật Bà " như ta quan niệm. Trong bảo tàng châu Á ở Paris, khách viếng thăm có thể chiêm ngưỡng những bức tượng này. Tôi không rõ trong bảo tàng Chàm ở Đà nẵng, có loại tượng này không ?. Tóm lại không có phật giáo Tiểu thừa ở Cham pa, và nói rộng ra ở ĐNA vào thời kỳ đó để vua Trần mang về Đại Việt. Có lẽ vua Trần Nhân Tông chưa bao giờ được nhìn thấy tận mắt văn hoá phật giáo Tiểu thừa như thế nào. Ngược lại về mặt lý thuyết kinh kệ, thì đó là điều không phải xa lạ với bất cứ một người nghiên cứu phật giáo đại thừa nào, bởi vì trong các tông phái Đại thừa (nếu tôi không nhầm thì có 9 tông), trong đó có 3 tông là Tiểu thừa. 3 tông Tiểu thừa này cũng thịnh hành ở TQ vào khoảng thế kỷ thứ IV đời nhà Tuỳ, trước khi tịnh diệt. Cho đến nay, khi người ta học theo phật giáo Đại thừa, cũng vẫn có phần nói tới 3 tông này.
Vậy cái áo trên tượng vua Trần Nhân Tông để hở vai phải có ý nghĩa gì ? Nó chỉ có ý nghĩa là y phục của tăng ni theo phật giáo Đại thừa theo kiểu ĐNA ,không chịu ảnh hưởng của y phục TQ mà thôi. Nó cũng chứng tỏ, phật giáo vào VN theo nhiều nguồn, có nguồn trực tiếp từ ĐNA lên có nguồn từ TQ xuống. Người ta cũng có thể suy rộng ra là y phục của phật giáo VN thời nhà Trần là y phục phật giáo như ở các nước ĐNA, được truyền trực tiếp từ Ấn độ qua. Trong khi kinh kệ, vì dùng chữ Nho nên lại nhập từ TQ qua. Vì thế văn hoá VN mới được gọi là IndoChine (tức là ảnh hưởng của cả Ấn độ lẫn TQ, không kể phần bản địa). Nó cũng nói lên một điều là VN và TQ có nhiều điều giống nhau, nhưng không phải vì lý do VN học TQ, mà vì cả VN lẫn TQ đều học chung từ một nguồn, thậm chí cái nguồn ấy vào VN trước rồi mới sang TQ, mà phật giáo Đại thừa là một ví dụ.
Cách để hở vai phải cũng có ở trong phật giáo TQ. Dấu vết của nó chính là cái vuông vải mầu vàng lớn, được vắt lên vai trong y phục của các hoà thượng TQ, mà người ta có thể thấy ngay cả trong những phim " mì ăn liền " về " chưởng " về " công phu " của Hồng Kông . Có điều khác là họ không khoác trực tiếp lên người, có lẽ vì đó là y phục của vùng Trung Á, hay có thể vì lạnh quá mà người ta không thể mặc thế được. Nhiều khi cái khăn vắt vai này còn có mô típ ca rô, bởi vì về nguyên thuỷ, đó là một trong tam cụ của chư tăng, và nó phải là vải chắp vá từ những miếng vải hoả thiêu người chết ghép lại.
Phật giáo Tiểu thừa thì vào ĐNA khá muộn, từ thế kỷ XIV, từ miền Nam Ấn (bang tamil nadu ở Ấn độ hiện tại). Tức là lúc mà bắc Ấn độ đã bị người Hồi giáo xâm lược và thống trị một phần. Đạo Phật ở Bắc Ấn và lưu vực sông Hằng đã bị huỷ diệt. Đại học phật giáo nổi tiếng Nalanda không còn nữa.
Những nhà nước theo phật giáo Tiểu thừa đầu tiên ở ĐNA là ở Hạ lưu sông Mê nam của người Môn (đất Thái lan ngày nay), hay ở vùng đồng bằng ven biển Miến điện. Sau này người Thái xâm lược Phù nam (Cam pu chia hiện tại), làm tan rã nhà nước này, cùng đồng thời truyền phật giáo Tiểu thừa vào. Nhưng phật giáo Tiểu thừa không bao giờ ra tới Cham pa. Ở nước này, sau phật giáo Đại thừa tuyệt diệt, người Chàm đã theo hồi giáo, cũng là do thương nhân Ấn truyền đạo chứ không phải trực tiếp từ người Ả rập. Dấu vết của nó là tông Hồi giáo bani (nghĩa là hồi giáo cổ),hiện chỉ có trong tín ngưỡng của người Việt gốc chàm ở Phan rang, Phan Thiết, theo đó người ta vẫn theo mẫu hệ (dù hồi giáo là phụ hệ triệt để), và còn giữ được nhiều tín ngưỡng từ Ấn độ giáo. Ngược lại người việt gốc Chàm ở An giang hay Tây ninh, hay người Chàm ở Cam pu chia (tỉnh Công pông chàm) thì theo hồi giáo đợt sau (nhập từ Java vào), triệt để hơn.
Tóm lại về mặt lịch sử, vua Trần Nhân Tông không thể nào tiếp xúc với một văn hoá phật giáo Tiểu thừa được, mà nó chỉ là phật giáo Đại thừa không bị văn hoá Trung quốc bản địa hoá mà thôi. Tức là ngài đã được mục kích một " original indian version of buddhism Mahayana ", và cái nếp áo trên tượng của ngài là một minh chứng cho việc này.

Nền văn hóa Hongshan

Photobucket

VĂN HÓA HONGSHAN 4500-2250 B.C.


Các đồ đá mới của nền Văn hóa Hongshan có niên đại từ 4500-2250 và là một trong những nền văn minh sớm nhất , tiên tiến nhất được phát hiện cho đến nay tại Trung Quốc. Nền văn hóa Hongshan chủ yếu nằm trong khu vực đất nội Mông ( Tỉnh Liêu Ninh và tỉnh Hà Bắc hiện nay(mới có bằng chứng xác định cho thấy khu định cư trong khu vực sông Dương Tử).
Nền văn hóa Hongshan được biết đến qua các cách cấu trúc xây dựng đền thờ và nhà cửa , thành phố ... Nhưng nỗi bật hơn hết là các kỷ thuật chạm khắc ngọc bích nephrite sớm nhất . kỹ thuật chạm và khắc đến độ tinh vi của họ được truyền lại trên các đồ công nghệ làm từ đá và ngọc . Những hoa văn , hình tượng mang tính thẩm mỹ cao ngoài sức tưởng tượng của con người đương đại hiện giờ : Để giải thích những kỷ thuật khắc nỗi trên ngọc hay làm ra những sản phẩm đó thì hoàn toàn vượt quá sự giải giới hạn của sự lý luận hay giải thích .... Nhiều hiện vật ngọc Hongshan được xem là tốt , được giữ nguyên vẹn là do thực tế là nền văn hóa Hongshan là nền văn hóa của tế lễ và chôn cất cho nên các hiện vật thường nằm trong các hầm mộ trong lòng đất nên có được sự bảo quản khá tốt . Ngoài ra vì khí hậu khô cằn và khô của Nội Mông Cổ do ít mưa cũng là một yếu tố ........ Có lẽ nổi tiếng được biết đến ngọc Hongshan là rồng cuộn thai nhi hay rồng trư long  ( Đầu rồng nhưng miệng giống như con lợn )Sau khi nghiên cứu các di tích khảo cổ thời tiền sử tìm thấy ở thành phố Chifeng thuộc vùng tự trị Mông Cổ  (Đông Bắc Trung Quốc), các nhà khoa học cho rằng đầu rồng có thể có nguồn gốc từ lợn hoặc cũng có thể là ngựa hay một loại động vật có sừng.
PhotobucketPhotobucket


Hơn 80 nhà nghiên cứu hàng đầu của Trung Quốc và thế giới đã nhóm họp tại thành phố Chifeng để bàn bạc trao đổi những thông tin mới nhất về Hongshan, khu khai quật có từ 6.500 đến 5.000 năm trước công nguyên . Ở Liêu Ninh -phía bắc Beijing, thuộc đông bắc Trung Hoa và Nội Mông- chỉ có loại đá bây giờ gọi là soapstone, độ cứng Mohs scale từ 2.5 đến 4, người Trung Hoa lúc đó đã yêu quý  lắm rồi , gọi là “yu”, cẩm thạch, đá xanh. Năm 1970, tại địa điểm Chifeng, thuộc Nội Mông, nhóm khảo cổ Nhật đào được cả trăm tượng bằng soapstone, từ 3 đến 30cm. Hình người, đa số là phụ nữ, chíên sĩ, thợ săn, nô lệ, thầy phù thuỷ , đến các loài quái thú …. Các con thú, nhiều nhất là rồng và heo, có cả rùa, thỏ, mèo, chim, phượng hoàng, cú mèo, ve sầu, cào cào, bướm, sâu… Soapstone không thể nào sánh được với nephrite, tuy vậy loại đá này đã hân hạnh ghi lại thời Đồ Đá châu Á. Đó là nền văn hoá Hongshan (3500 - 2000TCN), bao trùm một vùng từ Nội Mông/Inner Mongolia , Hà Bắc(Hebei )và Liêu Ninh(Liaoning ) lúc đó vì do chưa cấu thành quốc gia, nên không có biên giới phân biệt rõ rệt . Rồng ở Trung Quốc có thể chia làm ba hệ thống: Rồng đầu lợn ở phía Bắc , rồng đầu rắn mình người ở vùng trung tâm và rồng đầu cá sấu ở phía Đông. Truyền thống tôn thờ rồng của Trung Quốc được những người cổ xưa giữ gìn và phát huy. Họ là những người sống bằng nghề săn bắt và đánh cá nên họ rất sùng kính những nguồn thức ăn chính của mình như lợn, nai, chim và rắn .


Hình rồng cho thấy ý niệm về loài bò sát thời đó. Con rồng chữ C này, được đặt tên Zhulong (Zhu; heo, long: rồng), hay “pig dragon” đầu giống heo thân giống rắn. Con rồng này đẹp nhất trong số 38 “rồng heo” đào được, cả về kỹ thuật mài giũa lẫn “nước ngọc”. Những con thú này về sau cũng tìm thấy nơi nền văn hoá Liangzhu (3400 - 2250TCN) ở hạ lưu sông Dương Tử; và ở cuối đời nhà Thương (1700-1100 TCN). Các nhà Trung Hoa học coi Zhulong là tiền thân của “văn hoá” rồng Trung Hoa. Đá ngọc Soapstone được khai thác mãi đến đời Hán mới cạn.


Mitdac
Photobucket

Hình ảnh của rồng được kết hợp giữa đầu thú với mình rắn từ nền văn hóa Hongshan và không thay đổi cho đến khoảng 4.000 năm sau đó. Rồng Honshan là hình ảnh sớm nhất và hoàn chỉnh nhất về rồng được tìm thấy ở Trung Quốc. Phát hiện lớn nhất và quan trọng nhất là tượng rồng đầu lợn bằng ngọc dài 26cm và cuộn lại như chữ “C”. Tượng có đầu lợn, thân rắn, môi mím, mắt lồi và có lỗ ở phía sau. Ngoài ra họ còn tìm thấy rất nhiều xương lợn được chôn cùng với người chết ở khu Hongshan . Điều này chứng minh rằng lợn từng có vị trí rất quan trọng và có thể là biểu tượng cho sự thịnh vượng của ngành chăn nuôi đã sớm hình thành .
Người ta vẫn còn đang tranh cãi các giả thuyết khác nhau về nguồn gốc của rồng. Một số tin rằng thân rồng bắt nguồn từ thằn lằn , rắn hoặc cá sấu, đầu thì giống ngựa hay 1 loại động vật có sừng nào đó. Nhưng bây giờ người ta lại tìm thấy tượng rồng đầu lợn tại vùng Hongshan, trải dài từ Đông Nam khu tự trị Mongolia đến phía Tây tỉnh Liaoning , Đông Bắc Trung Quốc.
Photobucket
Tượng rồng đầu lợn tìm thấy ở Hongshan là bằng chứng khảo cổ đầu tiên cho một hệ thống tín ngưỡng nguyên thủy từng được nghiên cứu. Gần đây các nhà khảo cổ đã phát hiện thêm rằng : nền văn hóa Hongshan sở hữu các kiến thức về luyện kim và làm tạo tác các vật dụng được chế tạo từ đồng (có thể có sắt) các công cụ kim loại này có thể để làm và tạo nên những kiệt tác đồ ngọc của họ. Nhiều hiện vật của nền văn hóa Hongshan còn xót lại đã cho thấy việc sử dụng các lưỡi cưa và dụng cụ khoan đã phản ánh một thực tế là : Con người vào thời đó họ đã có được một nền văn minh rất cao về một ngành công nghệ tiên tiến. Hiện nay không có bằng chứng thực tế nào được biết đến từ các nền văn hóa khác như đồ đá mới được hiển thị bằng chứng về việc sử dụng công cụ bằng kim loại để khắc hình ảnh biểu tượng trên ngọc trong thời gian này.
Mitdac
Các nhà khảo cổ của Trung Quốc mới đây đã phát hiện một kim tự tháp Hongshan , mô hình xây dựng có niên đại hơn 5.000 năm ở khu tự trị Nội Mông Cổ, ở phía bắc Trung Quốc. Theo một nhà khảo cổ học nổi tiếng của Trung Quốc, chính "cấu trúc kim tự tháp" này , nằm trên một sườn núi có cách khoãng một km về phía bắc Sijiazi trong quận Aohan . Kiến trúc là một tháp ba tầng được xây dựng theo tựa đồ hình kim tự tháp : 30 mét dài và 15 mét rộng. Phát hiện này làm sáng tỏ thêm một thực tế là những người cổ xưa đã biết đến các các con số đo lường và họ là một trong những người đầu tiên có kiến thức để xây dựng cấu trúc kim tự tháp ?
Những đồ đá mới sớm nhất của Hongshan được làm bởi các nghệ nhân sống trong một khu vực giao điểm giữa thảo nguyên và vùng khí hậu nông nghiệp . Trong giai đoạn giữa của thời đại Hongshan, nền văn hóa đã được thể hiện trong nếp sống qua chăn nuôi và nông nghiệp ,và chính sự cấu trúc xã hội này đã dẫn đến tiến sự bộ trong nền văn hóa tế lễ và thờ cúng ông bà tổ tiên .Sau những phát hiện các cổ vật ra từ các hầm mộ chôn cất cho ta thấy : Văn hóa Hongshan họ đã có cấu trúc xắp xếp các thứ lớp trật tự của vị trí xã hội đẵng cấp và họ không trồng lúa. Chăn nuôi dường như đã được phát triển rất tiên tiến với sự thuần hóa các gia xúc như con lợn và vịt ... Bằng chứng khảo cổ cho thấy rằng với sự nổi lên của tầng lớp xã hội đã cho thấy có một ngành công nghiệp bao gồm trong đó có các tiểu thủ công nghiệp lớn do các nghệ nhân làm ngọc phát triển rất rực rỡ .

Mitdac
Các đồ ngọc Hongshan được sử dụng trong các nghi lễ nghi lễ và nghệ thuật tạo khắc được tạo ra cho các bật vươn giã khoảng thời gian hơn 2.000 năm. Các nền văn hóa ngọc Hongshan và đồ đá mới là nền Văn hóa có khoãng 3700-2250 TCN chủ yếu nằm trong khu vực đất giữa Nội Mông Cổ, và ngày nay là tỉnh Liêu Ninh và tỉnh Hà Bắc... Tìm thấy gần đây nhất là từ một ngôi mộ tại Niuheliang và hai ngôi mộ gò nhỏ khai quật trong cùng một khu vực thì mới khám phá thêm về ngành công nghệ đúc kim loại được phát hiện bởi vòng đồng nhỏ trong khi khai quật . Việc sử dụng lò nung nóng với nhiệt độ cao để sản xuất ra các loại sơn cao cấp hay các đồ gốm có phết sơn chất chu sa hay cho đến các vật dụng ngọc Hongshan đã chứng minh là :sức mạnh của nhiệt luyện kim với cường độ cao đã tồn tại trong nền văn hóa này. Có những phát hiện cho rằng những người thời này đã biết cách chiết xuất từ các mỏ quặng sắt , hợp kim niken từ thiên thạch ngoài trái đất để làm nên các ngọc nghi lễ hay tạo tác ra các hình dáng hình công cụ để khắc ngọc ...

Huke


Nền văn hóa Hongshan làm các vật dụng bằng ngọc bằng các tạo tác hình tượng rất tiên tiến và nhất là lối chạm khắc tinh vi .... Có lẽ các dụng cụ dùng để chạm khắc khắc trên ngọc có thể đã được làm bằng sắt từ đá thiên thạch ngoài trái đất . Những bằng chứng của nội dung luyện sắt được còn ghi lại bằng những hình ảnh trên một số cổ ngọc . Nhiều chất đá ngoài trái đất hay thiên nhiên ,hay một số các hiện vật có từ tính nam châm ta có khả năng kết luận rằng : Nền văn hóa Hongshan được nhận thức của các lực lượng từ trường của trái đất. Một quan sát hấp dẫn thông qua việc nghiên cứu các đồ tạo tác ngọc Hongshan là sự tạo tác lên các hình tượng phong phú của " người ngoài trái đất " như các cấu trúc : tượng người Alien , người thú ... thì hoàn toàn không thể giải thích nỗi . Các hình tượng người hay vật được khắc hay đẻo từ ngọc của nền văn hóa Hongshan lại có nhưng đặc trưng rất riêng biệt mà chúng ta không thể tìm thấy trong các nền văn hóa của đồ đá mới . Khi nghiên cứu thêm cứu các hiện vật Hongshan ta thấy thêm rằng : Văn hóa thời này đã bước đến một sự văn minh tột đỉnh với một kiến thức rất tinh vi của toán học và Thiên văn học .
Photobucket
PhotobucketPhotobucket

Vào năm 1938, một nhóm các nhà khảo cổ học, do giáo sư Chi Pu Tei của Đại học Bắc Kinh, được tiến hành một cuộc điều tra rất chi tiết thông thường của một loạt các hang động liên kết với nhau của Kara-Ula Balan, một huyện biên giới của Trung Quốc và Tây Tạng. Nhóm khỏa cổ đã phát hiện một hang động ngầm vào núi với một nguồn nhiệt lượng khác lạ và bên trong hang động họ đã tìm được một số cổ vật bằng xương người được chôn lấp sắp xếp gọn gàng.Các bộ xương được hơn bốn feet trông rất mãnh khảnh với cái hộp sọ rất to. Ban đầu, các nhà khảo cổ cho rằng đây là hang động của loài khỉ ape. Tuy nhiên, Giáo sư Chi Pu Tei nói "Ai đã từng nghe nói về loài khỉ chôn nhau ?"

Trên các bức tường của các hang động đã được tìm thấy bản vẽ những hình người với cái đầu đội những cái nón lớn . Ngoài ra trong vách đá cũng cũng có những hình vẽ mặt trời, mặt trăng, trái đất và các ngôi sao, kết nối... Một phát hiện khác khá quan trọng là người ta phát hiện được một cái đĩa đá (Bi )dày khoảng 2 cm (0,8 inch), một nửa chôn trong bụi trên sàn của hang động với các vạch xoắn ốc ra từ trung tâm điểm ra đến tận vành ngoài . Theo xác định loại đá này có từ 10.000 đến 12.000 năm tuổi ( tuổi của xa hơn kim tự tháp của Ai Cập. ) Sau khi tìm kiếm kỹ lưỡng của các hang động các nhà khảo cổ đã tìm thấy thêm 715 cái đĩa khác ! Mỗi đĩa được 22,7 cm (9 inch) và có đường kính 2 cm (3 / 4 inch) dày. Mỗi đĩa cũng đã có một lỗ tròn 2 cm được đục hoàn hảo với trọng tâm chính xác với những đường rãnh cực nhỏ được vạch lên liên tục không chồng nhau từ trọng tâm cho ra đến vành ngoài....
Photobucket
Nhiều chuyên gia đã cố gắng để giải thích sự kiện này nhưng Học viện Bắc Kinh đã cấmxuất bản những phát hiện này của ông Tsum Um Nui. Ông Tsum Um Nui cho rằng các thông điệp trên đá đã được viết bởi một người tự gọi mình là các Dropa.
Theo Tsum Um Nui, một trong những dòng của chữ tượng hình đọc, "The Dropas âm thanh của các phụ âm thứ hai là ở giữa một Z 'và một' R ') của một loài sinh vật ngoài trái đất đi xuống từ những đám mây trên máy bay của họ.Dropa và cuộc hành trình định mệnh của họ đến Trái Đất theo nghiên cứu của tiến sĩ Tsum Um Nui.
PhotobucketPhotobucket
Những bí mật của nền văn hóa Hongshan bị mất tích trong cái bánh xe lịch sử đang tiến về phía trước , nhưng những bí mật về con người và một nền văn hóa văn minh Hongshan vẫn đang chờ đợi ai đó để tìm tòi khám phá. Những khám phá lớn nhất về nguồn gốc của nền văn minh của con người đang chờ đợi chúng ta... Có lẽ , nó có thể nói lên rằng họ đang thực sự là con cháu từ một nền văn minh tiên tiến dài đã bị tàn lụi bởi một thế lực vô hình nào đó . Khi bạn giữ một vật cổ ngọc Hongshan trong tay của bạn thì bạn chắc sẻ không khỏi ngạc nhiên về những thông điệp của một nền văn hóa của những cuộc hành trình của một nghìn kiếp sống từ thủa sơ khai ...

Saturday, April 3, 2010

Nền văn hóa Liangzhu

Photobucket

Nền văn hóa Liangzhu được hình thành vào khoãng (3400-2250 TCN)


Đây là khoãng thời gian phát triển rực rỡ của nền văn hóa đồ ngọc trên sông Dương Tử của Trung Quốc. Tầm ảnh hưởng của nền văn hóa Lãng Chu kéo dài từ khắp vùng Thái Hồ về phía Bắc đến Nam Kinh ( Chang Jiang ) Còn phía đông thì kéo cho đến Thượng Hải và tiến dần đến biển . Phía nam thì kéo xuống tận đến Hàng Châu. Văn hóa của Lãng Chu đã được đánh giá với trình độ tạo ra các sản phẩm với chất lượng rất cao: như ngọc, lụa, ngà voi và đồ tạo tác sơn mài đã được tìm thấy trong các cổ mộ chôn cất của các vua quan ; và trong khi đó đồ gốm thường được tìm thấy trong các mảnh mai táng của các cá nhân nghèo thường dân . Nền văn hóa Liangzhu được phát hiện tại Chiết Giang và bước đầu khai quật bởi ông Shi Xingeng vào năm 1936.
Photobucket
Trong nửa thế kỷ qua, các nhà khảo cổ Trung Quốc đã thực hiện nhiều khám phá mới về nền văn minh tiền sử Trung Hoa. Từ thời Đá Mới đến đầu triều đại nhà Hạ (khoảng 7000-2000 TCN), đã tìm thấy rất nhiều di chỉ văn hóa tiền sử ở trung lưu thung lũng Hoàng Hà và trung, hạ lưu thung lũng sông Dương Tử, chẳng hạn như văn hóa Ngưỡng Thiều (Yangshao - , 4600-3000 TCN), văn hóa Long Sơn (Longshan - 3000-2200 TCN) trong thung lũng Hoàng Hà; các di chỉ văn hóa Hà Mỗ Độ (Hemudu 5000-4000 TCN), văn hóa Liangzhu (2800-1800 TCN) tại vùng hạ luu Dương Tử. Các di chỉ này cho thấy thung lũng Hoàng Hà và Dương Tử là một trong những khu vực đầu tiên trên thế giới xuất hiện văn minh nông nghiệp.

Nền văn hóa Lãng Chu lấy nông nghiệp làm chính , tiếp nối của nền văn hóa Hemudu - Hà Mỗ Độ (Vết tích bữa cơm tiền sử nấu với gạo từ lúa mọc hoang xưa nhất thế giới, 13.000 năm trước, được một nhóm khảo cổ Mỹ-Trung Hoa tìm thấy trong hang Diaotonghuan phía nam sông Dương Tử (bắc tỉnh Giang Tây ). Cư dân sống trong vùng này đã biết thử nghiệm các giống lúa , và cách trồng trong thời gian dài tiếp theo đó. Điều này đă được nhóm khảo cổ chứng minh qua sự tăng độ lớn phytolith của lúa (phần thực vật hoá thạch , tồn tại nhờ giàu chất silica ) lắng trong những lớp trầm tích theo thời gian . Tin này đã được đăng trên tạp chí khoa học Science , năm 1998. Các nhà khoa học nghiên cứu về phytoliths ( thạch thể lúa ) này đă chứng minh rằng từ 9000 năm trước dân cổ ở vùng đó đã ăn nhiều gạo của lúa trồng hơn lúa hoang . Nhóm cư dân bản địa này cũng bắt đầu làm đồ gốm thô xốp bằng đất trộn với trấu. Kinh nghiệm về trồng lúa tích tụ tại đấy trong mấy ngàn năm đă đưa đến nghề trồng lúa trong toàn vùng nam Dương Tử . Di tích xưa thứ hai , 9000 năm trước , là Pengtou, gần hồ Động Đình , phía nam sông Dương Tử. Hơn bốn mươi chỗ có di tích lúa cổ hàng ngàn năm đă được tìm thấy ở vùng nam Trường Giang . Gần cửa biển nam Trường Giang, di tích Văn hoá Hemudu (Hà Mỗ Độ) cho thấy văn minh lúa nước trong vùng lên đến trình độ rất cao vào 7.000 năm trước, sớm hơn cả di tích làng trồng kê Banpo (Bán Pha ) xưa nhất của dân tộc Hán phương Bắc.
Hemudu là một làng vài trăm người sống trên nhà sàn trong vùng đầm lầy ở cửa sông Tiền Đường . Dân Hemudu đă trồng lúa, ăn cơm, để lại lớp rơm và trấu dày 25-50 cm, có nơi dày đến cả mét, trên diện tích 400 mét vuông. Có thể đó là lớp rác để lại trên sân đập lúa. Di chỉ thực vật củ ấu , củ năng , táo và di cốt động vật hoang hươutrâu , tê giác , cọp , voi... cho thấy khí hậu vùng Nam sông Dương Tử bấy giờ thuộc loại nhiệt đới, hoàn toàn thích hợp với việc canh tác lúa nước.
Photobucket
Nền văn hoá Hemudu xưa bảy ngàn năm có nhiều điểm gần gũi với văn hoá Phùng Nguyên-Đông Sơn vốn là những văn hoá trẻ hơn nhiều sau hơn 3000 năm. Cư dân vùng nam Trường Giang lúc ấy có lẽ gần với cư dân Bắch Việt về mặt chủng tộc và văn hoá hơn cư dân bắc Trung Hoa . Khuôn mặt đắp từ sọ người Hemudu trưng bày ở Viện Bảo tàng Hemudu cho thấy họ giống người thuộc chủng Nam Mongoloid , tức là chủng của người Việt Nam từ thời Đông Sơn về sau . Sau văn hoá Hemudu, hàng loạt văn hoá lúa nước khác đã sinh ra dọc lưu vực sông Trường Giang khoảng 4000 năm trước như Liangzhu , trong đó bao gồm thủy lợi, trồng lúa và nuôi đánh bắt thủy sản . Những ngôi nhà thường được chế tạo với mặt sàn cao vươn ra trên mặt sông nước.... Trong cuốn Carl Sauer, Agricultural Origins and Dispersal, The American Geographical Society, New York , 1952 tác giã Sauer viết như sau:" Về cái nôi của nền nông nghiệp đầu tiên, tôi xin thưa rằng ở Đông Nam Á. Nơi này quy tụ đầy đủ những điều kiện khác nhau cần thiết về vật lý thể chất, hóa học hữu cơ, khí hậu ôn hòa với cả hai vụ gió mùa , với chu kỳ mùa mưa ẩm ướt và mùa khô tạnh ráo, sông nước tiện cho viêc đánh cá, đất này là trung tâm điểm giao thương cả đường biển lẫn đường bộ của Cựu thế giới. Không có nơi nào mà vị trí lại thích hợp và có đủ yếu tố cung cấp cho sự phát triển nền văn minh hỗn hợp giữa nông và ngư nghiệp tốt hơn nữa... "
Photobucket
Các hình dáng ngọc từ nền văn hóa lãng chu này được đặc trưng làm để cung cấp cho các buổi nghi lễ tôn giáo , triều đình hoặc các nghi lễ , thông thiên với trời đất do các tế sư đứng ra làm chủ đạo. Các đồ tạo tác có mẫu vuông và tròn thao thiết được thấy từ các hình ảnh ngọc tông được gọi là Công hay còn gọi là Tông . Các Cong lớn nhất được phát hiện cân nặng 3,5 kg. Các hình tròn theo phương đồ Bi (đĩa) và Yue trục (trục nghi lễ) cũng đã được tìm thấy. Mặt dây chuyền ngọc cũng đã được tìm thấy, được thiết kế với các đại diện khắc của các loài chim nhỏ, rùa và cá , quái thú , loại nữa người nữa thú , mặt người giống như Alien .... Nhiều đồ tạo tác bằng ngọc có loại tạo từ xương trắng từ thú vật hay xương của loài người...., Có những vật tạo ra từ nguồn gốc đá tremolite , hay các lại đá từ các vật thiên thạch lạ ngoài trái đất có lực nam châm và không có tạp chất nên không bị rỉ sét ... Dựa trên chất dịch tại các hầm mộ mai táng , có một vài loại ngọc được tạo tác làm từ ngọc actinolite và serpentine cũng thường tìm thấy rất nhiều .
Photobucket



Các dụng cụ dùng để tạo hình thiết kế và các mãnh nhỏ dùng để thực hiện đánh bóng , trau chuốt lại trên ngọc (xem xét các công cụ thô sơ có sẵn vào tại thời điểm đó)Các vật dụng tuy rất thô sơ nhưng như sự thách thức lại các vật dụng máy móc để tạo tác hiện đại của chúng ta thời nay. Ngoài ra còn có một số lượng lớn đồ vật trải rộng trên nhiều phần giữa phía đông Trung Quốc với quy mô lớn. Những mỗi ngôi mộ nằm trên một nền tảng đất được chôn với lối chồng chất lên nhau , và trong đó có thể chứa loại ngọc khác nhau trong mỗi ngôi mộ.
Photobucket

Những hình ảnh của một con quỷ hai mặt , với nhiều biến thể bởi những hình vẽ bằng của những tạo vạch khắc liên tục , dứt khoác không trùng lặp , xuất hiện thường xuyên trên các hình tượng trên ngọc bích Liangzhu. Các hình vẽ được thực hiện chủ yếu trên các ngọc tông vuông tròn "Cong "nhưng đôi khi cũng trên trục, đĩa. Đôi khi các hình vẽ được khắc hình mặt quỷ 2 hướng đối chiếu nhau , có khi 3 mặt ; Nhưng trên các Ngọc Công " Cong " thường có khuôn mặt quỷ trên mỗi góc , có khi khuông mặt quỷ được khắc ngay các cạnh của " Cong " như ở giữa của mỗi bên , cùng với một cặp chim dấu hiệu tách góc mặt trái phải trước sau... Có lẽ đây là dấu hiệu của hai trung tâm ma quỷ, và bốn dấu hiệu của các con chim nhằm tách chúng ra chăng?
Photobucket

Toàn bộ hình thể nhìn vào như được ghép toàn thể là một người đàn ông đội một chiếc mũ lông chim lớn với chân ngồi chồm hổm hai tay chắp lại. Hình mặt người có một cái mũi lớn đâm từ dưới lên trên ( có thể rất giống với bộ phận sinh dục của người đàn ông, và cái miệng có thể được coi là rốn mặc dù nó nằm khá thấp, hoặc có thể âm đạo. ) Từ những nét đó rút ra mắt, tay và chân, tuy nhiên hình mặt vẫn như ẩn chứa các ý tưởng của một số nhân vật tổ tiên thần thánh đã được hợp nhất.
không biết những người dân Liangzhu sử dụng ngọc tông cong dùng co việc gì? Có lẽ ngọc tông được sử dụng trong các buổi nghi lễ để thông thiêng giữa trời và đất qua các tay pháp sư chăng? Cái lỗ tròn giữa ngọc tông muốn nói lên điều gì? ( Có thể đã được gợi ý các lỗ tròn được sử dụng để tổ chức nghi lễ nơi các đầm lầy đầy đám lau sậy thiêng liêng ) Thông thường các vật nghi lễ và rượu được đổ xuống cho các đám lau sậy trong các buổi tế lễ xưa để đại diện cho vị thần chấp nhận những món quà , và loại hình này của ngọc tông " cong " không có khắc mặt quỷ cũng thỉnh thoảng xuất hiện trong nhà Thương và Chu. Tuy nhiên, tham khảo trong một vài nghi lễ đề cập đến tác dụng của ngọc tông cong trong ritualbooks đời Chu thì quá mơ hồ. Ngoài ra các đĩa ngọc Bi chắc là dùng để tiếp đãi khách , phân biệt đẵng cấp hay dùng để xem đoán thời tiết , bói toán chăng ???
Photobucket

PhotobucketPhotobucket

Trong số các cổ ngọc hay các đồ đá mới chúng ta thường không thấy có những bằng chứng về ký tự của tác giả . Có lẽ do về mặt thần bí , người tạo tác ra các sản phẩm ngọc cho rằng họ là những công cụ được tạo nên bởi vũ trụ, và các công trình mà họ tạo ra chỉ là những biểu hiện sống động của các lực lượng vũ trụ chung quanh , chứ không phải do sự sáng tạo tài năng cá nhân. Bởi vậy khi xem các cổ ngọc thời Lãng Chu chúng ta thường thấy các hình dạng hoa văn được khắc lên trên ngọc thông thường chỉ có chung một khuôn mặt thần chứ không có một ký tự riêng nào của tác giã đã làm ra nó...Những người dân của những người thời cổ đại đã xem các biểu tượng làm từ ngọc như những đối tượng ma thuật và từ đó người ta sử dụng nó như một công cụ bảo vệ và hỗ trợ họ trong khả năng để giao tiếp với các đấng sáng tạo hay đấng hủy diệt của vũ trụ trong cuộc sống hàng ngày của họ. Từ đó người ta dễ tin và chấp nhận sự kỳ diệu của quyền hạn thần bí từ một lực lượng siêu nhiên vô hình đã sẵn có trong các loại đá quý này. Tùy thuộc vào hình dạng tạo làm từ ngọc ta thấy rằng các nghệ nhân tạo ngọc đã tạo nên các vật dụng để thờ cúng tổ tiên , các vật dụng để xem thiên văn hay vật linh thiêng có thể làm thay đổi vận mệnh hay vận may của họ thông qua bởi bàn tay của thần bí. Ngoài ra ngọc trong nền văn hóa Lãng Chu cũng được xem như như dụng cụ hướng dẫn và bảo vệ suốt cuộc đời và cái chết của họ .

Một bàn thờ đồ đá mới từ các nền văn hóa Liangzhu, khai quật tại Yaoshan ở tỉnh Chiết Giang, chứng minh rằng cấu trúc tôn giáo được xây dựng và thực hiện qua công việc đóng cọc cẩn thận trên thành đá và tường đá, vì vậy chúng ta cũng dễ suy luận rằng tôn giáo của thời Lãng Chu đã được xếp lên tầm quan trọng đáng kể. Bàn thờ được chia làm ba cấp độ : Phía cao nhất là một nền tảng trời tròn đất vuông . Ba nền tảng bổ sung đã được lát Chồng lên nhau . Có xương cốt được chôn thành như một bức tường đá. Trên bàn thờ có mười hai ngôi mộ trong hai hàng . Một phát hiện mới về di tích căn cứ bức tường thành phố cổ đã được công bố bởi chính phủ của tỉnh Chiết Giang vào ngày 29 tháng 11 năm 2007. Tất cả các di tích được xác định trước đó đã xây dựng nên một phần của thành phố. Ngoài ra các nhà khảo cổ tìm thấy một con kênh dài 40 mét khá rộng được xây dựng bằng đất cứng, trong đó đã được một lượng lớn mảnh gốm, Ngọc Tông , đĩa... do một nhà nghiên cứu tại Viện khảo cổ học Chiết Giang tìm thấy. Khi các nhà khảo cổ đã đào một hố sâu trên bờ phía đông của con kênh Bắc-Nam, họ rất ngạc nhiên khi tìm thấy một khu vực rộng lớn được xây dựng trên vùng đất đất khô cứng và đầy đá sỏi.
Photobucket

 khởi thủy đá và ngọc được chọn làm ra công cụ như đồ trang sức , các đồ dụng cụ để sử dụng cho các nghi lễ thông thiên giữa trời đất ( Thông thường các vật này được chạm khắc với các lối hoa văn có hình tượng như các mặt thần , hay các tế sư Saman với đôi mắt mở to như đang nhìn chằm chằm về phía trước ) Nền văn hóa Lãng Chu là một văn hóa ngọc bích có nhiều mối liên hệ đến ít nhiều của nền văn hóa Hoa Hạ ở phía nam sông Dương Tử của Trung Quốc. Ngành thủ công mỹ nghệ ngọc bích đã dần trưởng thành. Ngọc được khắc theo phưong diện nghệ thuật bắc đầu tách rời khỏi các ngành chế tạo những công cụ làm bằng đá và từ đó dần dần trở thành một nghề độc lập . Các vật được từ ngọc mô phỏng những công cụ vũ khí bằng ngọc bích như : dao, rìu , mũi tên , thanh kiếm... Có những loại ngọc được chế tác dành cho trang sức hay các vật dụng hàng ngày như cái lược chải tóc , vòng ngọc bích , vòng hoa tai , các ấm đựng nước , bình hoa....

Nghi thức xã giao được thể hiện bằng ngọc , các nghi lễ của giới quý tộc cũng lấy ngọc làm biểu tượng về tình trạng và quyền lực. Các ngọc tông được làm từ ngọc bích được sử dụng trong trong các buổi lễ nghi vẫn chứa đầy bí ẩn. Ngọc của nền văn hóa Lãng Chu với lối đặc trưng bởi kích thước lớn và tính đối xứng . Nền văn hóa Hongshan có đặc trưng đầy những bí ẩn của ngọc được tạo tác bởi thợ thủ công nghiêng về nghệ thuật chạm khắc tạo ra những hình tượng con người lạ kỳ hay những quái thú....
Trong đời nhà Thương sau này ngọc bích thường có màu xanh lá cây và vật đựng thực phẩm thì ngọc thường có màu đen và ngọc được chạm khắc thường có hình dạng của loài động vật hơn trong hình dạng hình học như : ngọc rồng, phượng hoàng ngọc bích, ngọc bích hình con chim vẹt.... trong các tư thế khác nhau.
Trong nghệ thuật đời Xuân Thu Chiến Quốc thì việc tạo tác khắc ngọc bích được phát triển đến một mức độ cao, có thể so sánh với nghệ thuật chạm khắc đá cổ đại Hy Lạp và Rome. Vào thời này ngọc đã được đưa lên vị trí như sử dụng như thời trang , người ta đeo đồ trang sức làm bằng ngọc bích từ đầu đến chân với các hình tượng như : hình ảnh của con rồng, phượng hoàng và con hổ trong các tư thế uốn theo hình thức "S
Trở lại ta có thể nhận định và chia ngọc bích thành bốn loại: ngọc bích dành nghi thức cúng tế , ngọc bích dành cho chôn cất tẩm liệm theo người chết , ngọc bích dùng để làm cảnh triển lãm và ngọc bích dùng cho việc biểu hiện cá nhân . Ngọc bích dành cho mai táng và ngọc bích dùng cho uy quyền là được chạm khắc đạt nghệ thuật nhất. Các ngọc được tìm thấy ở các mộ táng nói lên phần nào về tình trạng của người quá cố. Các ngọc bích hình cái đĩa tròn, cây đo khẩu độ , hai cái đĩa hình bán nguyệt , ngọc tông tùy theo từng tầng .... đã được chôn theo giống như tư thế của con người quá cố (tai, mắt, miệng, lỗ mũi, hậu môn và bộ phận sinh dục) với mục đích như ngăn chặn ma quỷ hay có mục đích nhằm ngăn ngừa xác chết khỏi mục nát .
Photobucket

Ngoài ra cuộc khai quật cho thấy rằng :con kênh là một kênh bên ngoài thành phố, và các khu vực phía đông của nó vẫn còn là một phần của bức tường thành phố . Các bức tường được mở rộng 1,500-1,700 m kéo dài từ đông sang tây và 1,800 m -1,900 m từ Bắc vào Nam. Thành phố này có diện tích 2.900.000 sqm ( 200,000 sqm là diện tích lớn hơn Tử Cấm Thành . )
"Đây là thành phố lớn nhất của thời đồ đá mới được phát hiện tại Trung Quốc... " ông Wenming Yan, một giáo sư tại Đại học Bắc Kinh cho biết như vậy .

Photobucket.
Từ đó ta tạm kết luận thủ đô của Vương quốc cổ Lãng Chu , mà ảnh hưởng của sự lây lan truyền bá văn hóa cho đến ngày nay là các vùng : Giang Tô, Thượng Hải, và tỉnh Sơn Đông . Một viện Bảo tàng Văn hóa Lãng Chu đã được hoàn thành trong năm 2008 cách khoãng 17,5 km về phía tây bắc của góc đông bắc của thành phố Tây Hồ ở tỉnh Hàng Châu.

Photobucket
Satellite view of the Liangzhu Culture Triangle with the Fan Shan site located approximately 30° 23’ 43”N and 119° 59’ 04” E and about 500m east of the Road #104 from Liangzhu via Changming to Pingyao
Các nhà khảo cổ Trung Quốc thường phân chia văn hóa thành ba giai đoạn: giai đoạn đầu (4100-3500 TCN), giai đoạn giữa (3500-3000 BC) và giai đoạn cuối (3000-2600 BC). Dựa trên các bằng chứng từ hiện vật được đào lên ở các ngôi cổ mộ hay các phế tích còn xót lại , giai đoạn đầu được cho là rất bình đẳng giống nhau ( Văn hóa Hòa Bình được xác định niên đại từ 11.000 đến 4.000 năm cách ngày nay). Giai đoạn này là điển hình của sự hiện diện của thiết kế riêng của từng nền văn hóa đặc trưng...Người Đông Di

Photobucket
Shun-Sheng Ling viết: “Xưa kia đa số dân duyên hải Trung Quốc là Đông Di. Người Đông Di là người Di sống ở Sơn Đông và Hà Nam như được mô tả trong thư tịch Trung Quốc. Người Di ở miền nam thì được gọi là Nam Di và người ở bắc thì được gọi là Bắc Di ".
Thư tịch Trung Quốc mô tả người Di là dân biển đóng thuyền lớn . Sau đó tên Di trở thành đồng nghĩa với từ biển.
Dân Di thường được gắn với các văn hóa : Long Sơn ( Shandong ) , Liangzhu, và Hongshan . Họ có tục bẻ răng, uốn đầu cho méo, và làm nhà sàn , đều là những nét chung của Đông Nam Á và Thái Bình Dương.
Trong thời Long Sơn ta thấy phát triễn những thành quách xây bằng đất đập. Điều này được xem là có thể chỉ dấu cho sự gia tăng về chiến tranh bộ tộc và do đó nhu cầu tư vệ từ đó mà theo lên . Thư tịch Trung Quốc nêu rõ rằng dân Di được xem là ngoại tộc đối với dân Hoa của vùng Thượng Lưu Hoàng Hà. Thời sau, từ Đông Di không dùng cho Sơn Đông nữa mà dùng để chỉ dân ngoại quốc khác .
Trong thời gian đầu, dân Di rất quan trọng trong sự hình thành văn hóa và văn minh Trung Quốc.Như nói trên, có nhiều bằng chứng buôn bán xa nhất là mặt hàng ngọc xanh và ngọc đỗi màu rẽ tiền từ vùng Dương Tử thuộc văn hóa Liangzhu.
Ngoài các nền văn hoá đồ đá, đồ đồng,... thêm nền văn hoá quan trọng mà trứoc đây bị giới ngiên cứu bỏ quên là nền văn hoá đồ ngọc . Đặc biệt văn hoá đồ ngọc Lương Chử (3310 - 2250) ở Triết Giang - rất nên quan tâm vì liên hệ với Văn Lang (cũng như các khuyên tai ngọc thời Đông Sơn). Họ có hình tượng "Ngọc tông" thao thiết vuông tròn theo quan niệm trời tròn đất vuông (trong sự tích bánh chưng, bánh dầy). Văn hoá thờ đồ ngọc sau này còn ghi dấu nhiều trong các tín ngưỡng của đạo Giáo như; Ngọc Hoàng, Ngọc nữ... vv

Photobucket

Photobucket
Photobucket