Monday, July 30, 2012

Bạch Ðằng giang - Trần Minh Tông




白 藤 江 - 陳 明 宗

挽 雲 劍 戟 碧 巑 岏,
海 唇 吞 潮 捲 雪 瀾。
綴 地 花 鈿 春 雨 霽,
撼 天 松 籟 晚 霜 寒。
山 河 今 古 雙 開 眼,
胡 越 贏 輸 一 倚 欄。
江 水 渟 涵 斜 日 影,
錯 疑 戰 血 未 曾 乾。

Bạch Ðằng giang - Trần Minh Tông

Vãn vân kiếm kích bích toàn ngoan,
Hải thẩn thôn triều quyển tuyết lan.
Xuyết địa hoa điền xuân vũ tễ,
Hám thiên tùng lại vãn sương hàn.
Sơn hà kim cổ song khai nhãn,
Hồ Việt doanh thâu nhất ỷ lan.
Giang thuỷ đình hàm tà nhật ảnh,
Thác nghi chiến huyết vị tằng can.

SÔNG BẠCH ĐẰNG

Núi dựng như gươm chạm mây thành,
Triều dâng sóng bạc phủ mờ xanh .
Mưa ướt hoa vàng phô mặt đất,
Rung chuyển thông chiều sương quẩn quanh .
Non sông gấm vóc hai lần rạng,
Thắng thua Hồ-Việt giờ thoãng nhanh .
Sông chiều ráng đỏ như màu máu,
Ngỡ xác quân thù vẫn còn tanh .


Badmonk - Tâm Nhiên


Núi biếc cao vút, tua tủa như gươm giáo kéo lấy tầng mây,
Hải thẩn nuốt thuỷ triều cuộn làn sóng bạc.
Hoa vàng điểm tô mặt đất lúc mưa xuân vừa tạnh,
Tiếng sáo thông rung chuyển trời khi sương chiều lạnh lẽo.
non sông này xưa nay đã hai lần mở mắt,
Cuộc hơn thua giữa Hồ và Việt thoàng qua như một lúc dựa vào lan can.
Nước sông chan chứa rọi bóng mặt trời buổi chiều đỏ ối,
Còn ngỡ là máu chiến trường thuở trước chưa từng khô.

Thursday, July 5, 2012

Sơn phòng mạn hứng Trần Nhân Tông

Quote Quote Modify Modify Remove Remove



山 房 漫 兴 - 陳 仁 宗

是 非 念 逐 朝 花 落,
名 利 心 隨 夜 雨 寒,
花 盡 雨 晴 山 寂 寂,
一 聲 啼 鳥 又 春 殘,

Sơn phòng mạn hứng - Trần Nhân Tông

Thị phi niệm trục triêu hoa lạc,
Danh lợi tâm tùy dạ vũ hàn.
Hoa tận vũ tình sơn tịch tịch,
Nhất thanh đề điểu hựu xuân tàn.

CẢM HỨNG Ở AM NÚI

Thị phi rụng cùng hoa buổi sáng,
Lợi danh lòng lạnh tựa mưa đêm .
Hoa tàn mưa tạnh rừng u tịch,
Một tiếng chim kêu xuân vội sang .

Badmonk - Tâm Nhiên



Niềm thị phi rụng theo hoa buổi sớm,
Lòng danh lợi lạnh theo trận mưa đêm.
Hoa rụng hết, mưa đã tạnh, núi non tịch mịch,
Một tiếng chim kêu, lại cảnh xuân tàn.



Trần Nhân Tông (1258 – 1308), tên thật là Trần Khâm (陳昑) là vị vua thứ ba của nhà Trần (sau vua cha Trần Thánh Tông và trước Trần Anh Tông) trong lịch sử Việt Nam. Ông ở ngôi 15 năm (1278 – 1293) và làm Thái Thượng hoàng 15 năm. Ông là người đã thành lập Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử, lấy pháp hiệu là Đầu đà Hoàng giác Điếu ngự. Ông được sử sách ca ngợi là một trong những vị vua anh minh nhất trong lịch sử Việt Nam.
Ngày 22 tháng Mười âm lịch năm Mậu Dần (tức 8 tháng 11 năm 1278), ông được vua cha là Trần Thánh Tông nhường ngôi, tức vua Trần Nhân Tông. Ông ở ngôi 14 năm, nhường ngôi 5 năm, xuất gia 8 năm, thọ 51 tuổi, qua đời ở am Ngoạ Vân núi Yên Tử, đưa về táng ở Đức lăng (nay thuộc tỉnh Thái Bình).

Bấy giờ nhà Nguyên sai sứ sang hạch điều này, trách điều nọ, triều đình cũng có nhiều việc bối rối. Nhưng nhờ có Thượng hoàng Thánh Tông còn coi mọi việc và các quan trong triều nhiều người có tài trí, Nhân Tông lại là một vị vua thông minh và quả quyết, mà trong nước từ vua quan đến dân chúng đều một lòng cả, nên từ năm 1285 đến 1287, Nguyên Mông hai lần sang đánh Đại Việt nhưng bị đập tan. Ngoài ra, quân Ai Lao thường hay quấy nhiễu biên giới, bởi vậy năm 1290 nhà vua phải thân chinh đi đánh dẹp.

Nhà vua từng nói: ‎" Các người chớ quên , chính nước lớn mới làm những điều bậy bạ , trái đạo . Vì rằng họ cho mình cái quyền nói một đường làm một nẻo . Cho nên cái hoạ lâu đời của ta là hoạ nước Tàu . Chớ coi thường chuyện vụn vặt nảy ra trên biên ải . Các việc trên , khiến ta nghĩ tới chuyện khác lớn hơn . Tức là họ không tôn trọng biên giới qui ước . Cứ luôn luôn đặt ra những cái cớ để tranh chấp . Không thôn tính được ta , thì gậm nhấm ta . Họ gậm nhấm đất đai của ta , lâu dần họ sẽ biến giang san của ta từ cái tổ đại bàng thành cái tổ chim chích . Vậy nên các người phải nhớ lời ta dặn : " Một tấc đất của Tiền nhân để lại , cũng không được để lọt vào tay kẻ khác " . Ta cũng để lời nhắn nhủ đó như một lời di chúc cho muôn đời con cháu "

Sau khi nhường ngôi cho con trai là Trần Anh Tông, ông xuất gia tu hành tại cung Vũ Lâm, Ninh Bình, sau đó rời đến Yên Tử (Quảng Ninh) tu hành và thành lập Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử, lấy đạo hiệu là Điều Ngự Giác Hoàng (hay Trúc Lâm đầu đà). Ông là tổ thứ nhất của dòng Thiền Việt Nam này. Về sau ông được gọi cung kính là “Phật Hoàng” nhờ những việc này. Ông qua đời ngày 3 tháng Một âm lịch năm Mậu Thân (tức 16 tháng 12 năm 1308), được an táng ở lăng Quy Đức, phủ Long Hưng, xá lỵ cất ở bảo tháp am Ngọa Vân; miếu hiệu là Nhân Tông, tên thụy là Pháp Thiên Sùng Đạo Ứng Thế Hóa Dân Long Từ Hiển Hiệu Thánh Văn Thần Võ Nguyên Minh Duệ Hiếu Hoàng Đế.

Tác phẩm của Trần Nhân Tông có:Thiền lâm thiết chủy ngữ lục (Ngữ lục về trùng độc thiết chủy trong rừng Thiền)Tăng già toái sự (Chuyện vụn vặt của sư tăng)Thạch thất mỵ ngữ (Lời nói mê trong nhà đá) Đại hương hải ấn thi tập (Tập thơ ấn chứng của biển lớn nước thơm)Trần Nhân Tông thi tập (Tập thơ Trần Nhân Tông)Trung Hưng thực lục (2 quyển): chép việc bình quân Nguyên xâm lược. Các phẩm trên đều đã thất lạc, chỉ còn lại 25 bài thơ chép trong Việt âm thi tập và Toàn Việt thi lục - Theo Wikipedia





Tuesday, June 19, 2012

Đốn tỉnh Tuệ Trung thượng sĩ - Đại Việt Cổ Thi




頓 省 - 慧 中 上 士

斷 知 空 有 不 相 差,
生 死 原 從 一 派 波。
昨 夜 月 明 今 夜 月,
新 年 花 發 故 年 花。
三 生 倏 忽 真 風 燭,
九 界 循 環 是 蟻 磨。
或 問 如 何 為 究 竟,
摩 訶 般 若 薩 婆 訶,

Đốn tỉnh - Tuệ Trung thượng sĩ

Đoán tri không hữu bất tương sa (sai),
Sinh tử nguyên tòng nhất phái ba.
Tạc dạ nguyệt minh kim dạ nguyệt,
Tân niên hoa phát cố niên hoa.
Tam sinh thúc hốt chân phong chúc,
Cửu giới tuần hoàn thị nghĩ ma.
Hoặc vấn như hà vi cứu cánh,
Ma-ha bát nhã tát-bà-ha.

CHỢT TỈNH

Có - Không lằng giới sợi chỉ thưa,
Tử sinh thoát từ ngọn sóng đưa .
Trăng chiếu đêm nay trăng hôm trước,
Hoa nở năm này hoa năm xưa .
Ba sinh như đuốc đi trong gió,
Chín cõi tuần hoàn kiến bò quanh .
Vấn hỏi thế nào là cứu cánh,
Ma Ha Bát Nhã Ta Bà Ha .

Badmonk - Tâm Nhiên



Đoán biết rằng "không" và "có" không cách nhau lắm,
Sống và chết vốn từ một đợt sóng.
Trăng sáng đêm qua vẫn là trăng đêm nay,
Hoa nở năm mới cũng là hoa năm cũ.
Ba sinh thấm thoắt thực như ngọn đuốc trước ngọn gió,
Chín cõi tuần hoàn, giống như cái kiến bò trên miệng cối xay bột.
Có người hỏi thế nào là cứu cánh,
Thì ta bảo "Ma-ha bát-nhã, ta-bà-ha".



Tuệ Trung Thượng Sĩ (1230 - 1291) tên thật là Trần Tung (hay Trần Quốc Tung), là một thành viên trong hoàng tộc nhà Trần với tước hiệu Hưng Ninh Vương và là một thiền sư Việt Nam. Ông là người hướng dẫn vua Trần Nhân Tông vào cửa Thiền và có nhiều ảnh hưởng đến tư tưởng của vị vua sáng lập Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử . Thời trẻ, ông không thích công danh, chỉ ham nghiên cứu về Thiền. Sau, ông học đạo với thiền sư Tiêu Dao, vừa thực hành giải thoát tâm trong đời sống gia đình theo hình thức cư sĩ, vừa đảm trách các công việc xã hội mà triều đình giao phó. Ông được vua Trần Thánh Tông nể vì do kiến thức uyên bác về nội ngoại điển , được vua tôn làm đạo huynh. Ông sáng tác nhiều thi, kệ; một số được kiết tập trong "Thượng sĩ ngữ lục" (Ngữ lục của Thượng sĩ) rất nổi tiếng.

Ông là người Tức Mặc, phủ Thiên Trường, nay thuộc tỉnh Nam Định. Ông là con trưởng của An Sinh vương Trần Liễu (nguyên tác chép An Ninh vương), anh ruột của Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn và Hoàng hậu Nguyên Thánh Thiên Cảm húy Thiều, vợ vua Trần Thánh Tông.

Trong cuộc kháng chiến chống Nguyên Mông lần 2 (1285) và lần 3 (1287-1288, ông đều trực tiếp tham gia . Sử chép rằng ngày 10 tháng 6 năm 1285, ông cùng với Hưng Đạo Vương đem hơn hai vạn quân giao chiến với tướng nhà Nguyên là Lưu Thế Anh và đuổi Thoát Hoan chạy dài đến sông Như Nguyệt (sông Cầu). Trong cuộc kháng chiến lần thứ ba, ông còn được giao những nhiệm vụ ngoại giao quan trọng, từng đến đồn trại đối phương vờ ước hẹn trá hàng, làm cho họ mất cảnh giác, sau đó cho quân đến đánh phá.

Hiện thơ ông còn lại 49 bài, được xếp trong bộ Thượng sĩ ngữ lục .

Sau khi kháng chiến thành công, ông được phong chức Tiết độ sứ cai quản phủ Thái Bình. Nhưng không lâu sau ông lại lui về ấp Tịnh Bang (nay ở huyện Vĩnh Bảo, ngoại thành Hải Phòng) lập Dưỡng Chân trang để theo đuổi nghiệp Thiền. Năm 1291, Tuệ Trung thượng sĩ mất, thọ 61 tuổi -Theo Wikipedia

Sunday, June 10, 2012

Hạ cảnh - Trần Thánh Tông





夏 景 - 陳 聖 宗

窈 窕 華 堂 晝 影 長,
荷 花 吹 起 北 風 涼。
園 林 雨 過 綠 成 幄,
三 兩 蟬 聲 鬧 夕 陽。

Hạ cảnh - Trần Thánh Tông

Yểu điệu hoa đường trú ảnh trường,
Hà hoa xuy khởi bắc phong lương.
Viên lâm vũ quá lục thành ác,
Tam lưỡng thiền thanh náo tịch dương.

CẢNH MÙA HÈ

Thềm hoa ngày nắng rủ bóng chờ,
Sen lồng song bắc mộng bâng quơ .
Mưa qua khoát áo rừng xanh biếc,
Ve động chiều hôm ý hững hờ .

Thềm hoa nắng ủ bóng ngày,
Hương sen cửa bắc gió đầy bay sang .
Sau mưa xanh phủ đại ngàn,
Tiếng ve chiều tối râm rang xa gần .


Badmonk - Tâm Nhiên


Nhà hoa thăm thẳm, bóng ngày rủ dài,
Hoa sen đưa hương mát đến cửa sổ phía bắc.
Vườn rừng sau mưa trở thành tấm màn biếc,
Vài ba tiếng ve khua rộn bóng chiều .



Trần Thánh Tông (1240 – 1290) là vị Hoàng đế thứ hai của nhà Trần (sau vua cha Trần Thái Tông và trước vua con Trần Nhân Tông), ở ngôi từ năm 1258 đến 1278 và làm Thái thượng hoàng từ năm 1278 (sau khi Thượng hoàng Thái Tông mất) cho đến khi qua đời. Ông là một vị Hoàng đế tài năng, có công rất lớn trong công cuộc xây dựng đất nước. Dưới triều đại của ông, nước Đại Việt thái bình và quân Nguyên Mông không sang xâm lược nữa. Không những đẩy mạnh chính sách phát triển kinh tế và giáo dục, ông đã thực hiện chính sách đối ngoại khôn khéo, nhưng cương quyết, đề cao quyền lợi của Đại Việt chứ quyết không để cho người Nguyên sang thôn tính. Trong thời gian làm Thái thượng hoàng, ông đã cùng với vua con Nhân Tông lãnh đạo đất nước giành chiến thắng trong hai cuộc kháng chiến chống Nguyên Mông.

Ông tên thật là Trần Hoảng, là vị Hoàng đế có lòng thương dân và thân thiết với anh em trong Hoàng gia . Trong cuộc Chiến tranh Nguyên Mông-Đại Việt lần 1, vào ngày 24 tháng 12 năm 1257 (năm Nguyên Phong thứ bảy), Thái tử Hoảng cùng với vua cha Thái Tông ngự lâu thuyền mà kéo quân đến Đông Bộ Đầu, đập tan tác quân Nguyên Mông trong trận đánh ở đây, buộc họ phải rút chạy và chấm dứt cuộc xâm lược Đại Việt ..

Saturday, June 2, 2012

Túc Hoa Âm tự - Nguyễn Trung Ngạn




宿 花 陰 寺 - 阮 忠 彥

偶 徬 招 提 宿,
僧 留 半 榻 分。
石 泉 朝 汲 水,
紙 帳 夜 眠 雲。
松 子 臨 窗 墜,
猿 聲 隔 岸 聞。
粥 魚 敲 夢 醒,
花 雨 落 繽 紛。

Túc Hoa Âm tự - Nguyễn Trung Ngạn

Ngẫu bạng chiêu đề túc,
Tăng lưu bán tháp phân.
Thạch tuyền triêu cấp thuỷ,
Chỉ trướng dạ miên vân.
Tùng tử lâm song truỵ,
Viên thanh cách ngạn văn.
Chúc ngư sao mộng tỉnh,
Hoa vũ lạc tân phân.

Ở TRỌ ĐÊM TẠI CHUA HOA ÂM

Gặp chùa ghé trọ giữa khuya
Đời trần quán tạm sư chia nửa giường
Sáng ra suối đá tầm hương
Đêm về ngủ dưới bốn phương mây lồng
Lặng yên thông rụng ngoài song
Tiếng con vượn hú bên sông gọi đàn
Chày kình khuya động giấc vàng
Hoa đâu bổng rụng từng hàng như mưa

Badmonk - Tâm Nhiên


Trọ tại chùa Hoa Âm

Ngẫu nhiên vào ngủ đêm trong ngôi chùa,
Sư dành cho nửa giường.
Sáng đi múc nước ở suối đá,
Đêm ngủ với mây trong trướng giấy.
Quả thông rụng trước cửa sổ,
Tiếng vượn nghe bên kia sông.
Mõ chùa khua tỉnh giấc mộng,
Mưa hoa rơi xuống tơi bời.


Nguyễn Trung Ngạn (1289–1370), tự là Bang Trực, hiệu là Giới Hiên, người làng Thổ Hoàng, huyện Thiên Thi (nay là Ân Thi), tỉnh Hưng Yên. Ông là một nhà chính trị, một đại thần có tài, được xếp vào hàng "Người phò tá có công lao tài đức đời Trần" . Cùng với Nguyễn Trung Ngạn là Trần Quang Khải, Mạc Đĩnh Chi, Trương Hán Siêu, Lê Quát, Phạm Sư Mạnh, Đoàn Nhữ Hài, Trần Thì Kiến, Phạm Tông Mại, Trần Nguyên Đán.

Wednesday, May 9, 2012

Xuân giang hoa nguyệt dạ - Trương Nhược Hư



春江花月夜 - 张若虚

  春江潮水连海平,海上明月共潮生。
  滟滟随波千万里,何处春江无月明。
  江流宛转绕芳甸,月照花林皆似霰。
  空里流霜不觉飞,汀上白沙看不见。
  江天一色无纤尘,皎皎空中孤月轮。
  江畔何人初见月,江月何年初照人。
  人生代代无穷已,江月年年只相似。
  不知江月待何人,但见长江送流水。
  白云一片去悠悠,青枫浦上不胜愁。
  谁家今夜扁舟子,何处相思明月楼。
  可怜楼上月裴回,应照离人妆镜台。
  玉户帘中卷不去,捣衣砧上拂还来。
  此时相望不相闻,愿逐月华流照君。
  鸿雁长飞光不度,鱼龙潜跃水成文。
  昨夜闲潭梦落花,可怜春半不还家。
  江水流春去欲尽,江潭落月复西斜。
  斜月沉沉藏海雾,碣石潇湘无限路。
  不知乘月几人归,落月摇情满江树。


Xuân giang hoa nguyệt dạ - Trương Nhược Hư

Xuân giang triều thủy liên hải bình,
Hải thượng minh nguyệt cộng triều sinh.
Diễm diễm tùy ba thiên vạn lý,
Hà xứ xuân giang vô nguyệt minh.

Giang lưu uyển chuyển nhiễu phương điện,
Nguyệt chiếu hoa lâm giai như tiển.
Không lý lưu sương bất giác phi,
Đính thượng bạch sa khan bất kiến.

Giang thiên nhất sắc vô tiêm trần,
Hạo hạo không trung cô nguyệt luân.
Giang bạn hà nhân sơ kiến nguyệt ?
Giang nguyệt hà niên sơ chiếu nhân?

Nhân sinh đại đại vô cùng dĩ,
Giang nguyệt niên niên vọng tương tự.
Bất tri giang nguyệt chiếu hà nhân,
Đãn kiến trường giang tống lưu thủy.

Bạch vân nhất phiến khứ du du,
Thanh phong giang thượng bất thăng sầu.
Thùy gia kim dạ biên chu tử,
Hà xứ tương tư minh nguyệt lâu?

Khả liên lâu thượng nguyệt bồi hồi,
Ưng chiếu ly nhân trang kính đài.
Ngọc hộ liêm trung quyển bất khứ,
Đảo y châm thượng phất hoàn lai.

Thử thời tương vọng bất tương văn,
Nguyệt trục nguyệt hoa lưu chiếu quân.
Hồng nhạn trường phi quang bất độ,
Ngư long tiềm dược thủy thành văn.

Tạc dạ nhàn đàm mộng lạc hoa,
Khả liên xuân bán bất hoàn gia.
Giang thủy lưu xuân khứ dục tận,
Giang đàm lạc nguyệt phục tây tà.

Tà nguyệt trầm trầm tàng hải vụ,
Kiệt Thạch, Tiêu Tương vô hạn lộ.
Bất tri thừa nguyệt kỷ nhân qui,
Lạc nguyệt dao tình mãn giang thụ.


ĐÊM HOA TRĂNG TRÊN SÔNG XUÂN

Thủy triều lên, mặt sông xuân ngang mặt bể,
Trên bể, trăng sáng cùng lên với thủy triều.
Lấp loáng theo sóng trôi muôn ngàn dặm,
Có nơi nào trên sông xuân là không sáng trăng?

Dòng sông lượn vòng khu cồn hương thơm,
Trăng chiếu rừng hoa ngời như hạt tuyết.
Trên sông sương trôi tưởng như không bay
Bãi sông cát trắng, nhìn chẳng nhận ra

Sông và trời, một màu không mảy bụi,
Ngời sáng trong không, vầng trăng trơ trọi
Người bên sông,ai kẻ đầu tiên thấy trăng?
Trăng trên sông, năm nào đầu tiên rọi xuống người?

Người sinh đời đời không bao giờ ngừng
Trăng trên sông năm năm ngắm vẵn y nguyên
Chẳng biết trăng trên sông chiếu sáng những ai
Chỉ thấy sông dài đưa dòng nước chảy

Mây trắng một dải, vẩn vơ bay
Cây phong biếc xanh trên bờ buồn khôn xiết
Người nhà ai đêm nay dong con thuyền nhỏ
Người nơi nao trên lầu trăng sáng đương tương tư?

Đáng thương cho trên lầu vầng trăng bồi hồi
Phải chiếu sáng đài gương người biệt ly
Rèm nhà ngọc cuốn lên rồi, trăng vẫn không đi
Phiến đá đập áo lau đi rồi, trăng vẫn cứ lại

Giờ đây cùng ngắm trăng mà không cùng nghe tiếng nhau
Nguyện theo ánh đẹp vầng trăng trôi tới chiếu sáng bên người
Chim hồng nhạn bay dài không thể mang trăng đi
Cá rồng lặn nhảy, chỉ khiến làn nước gợn sóng

Đêm qua thanh vắng, mơ thấy hoa rơi,
Đáng thương cho người đã nửa mùa xuân chưa về nhà
Nước sông trôi xuôi, xuân đi sắp hết
Trăng lặn trên bãi sông, trăng xế về tây

Trăng xế chìm dần lẩn trong sương mù mặt bể
Núi Kiệt Thạch, sông Tiêu Tương đường thẳm không cùng
Chẳng biết nhân ánh trăng đã mấy người về
Trăng lặn, rung rinh mối tình, những cây đầy sông

  

ĐÊM HOA TRĂNG TRÊN SÔNG XUÂN

Đêm xuân trăng thủy triều dâng mặt biển
Trăng lồng trong lớp lớp sóng vỡ tràn
Ngàn ánh bạc tiếp đuôi vờn lấp loáng
Sông xuân ơi đâu chẳng ánh trăng vàng

Sông như lụa uốn mình theo dải cát
Rắc lên hoa trăng phủ ánh phấn ngà
Sương khói mõng là đà bay lãng đãng
Cát trắng nằm nên chẳng nhận ra

Trăng đơn chiếc giữa trời xanh biêng biếc
Bụi lắng yên trời nước lẫn một màu
Ai bên sông ngày đầu trăng chiếu
Trăng ngày đầu chiếu xuống nỗi lòng ai

Dòng đời đó chuyển kiếp người ghê rợn
Trăng trên sông năm tháng vẫn còn nguyên
Nên chẳng biết vì ai mà trăng sáng
Để dòng sông thao thức chở trăng vàng

Hồn mây bạc trôi về đâu viễn phố
Rừng phong già gió lặng đợi suy tư
Đêm thanh vắng khách dong con thuyền nhỏ
Ai trên lầu trăng sáng tương tư...

Nhớ nhau lắm một thủa nào trăng sáng
Thương cho người khóc hận buổi chia ly
Rèm ngọc cuốn trăng vào ra lãng đãng
Áo trao rồi trăng day dứt chẳng chịu đi

Vì hai đứa xa cách nhau vời vợi
Nhờ ánh trăng gởi gấm giấc mộng dài
Hồng nhạn chở nỗi lòng nơi sẻ tới
Ngư long xin quẫy sóng động hồn ai

Đêm qua nằm mộng mơ hoa rơi
Thương nữa chừng xuân thương cuộc đời
Sông cứ chảy như lời thở nhẹ
Trăng về tây trăng đã rụng rồi

Trăng xám lạnh lẫn màn sương của biển
Đâu Tiêu Tương, Kiệt Thạch, nào cố hương
Ai lữ thứ theo trăng thôi dừng gót
Tình đơn phương mà vung vãi khắp nẽo đường

Badmonk - Tâm Nhiên




Tuesday, February 28, 2012

Xuân Từ - Lưu Vũ Tích




春 詞 - 劉 禹 錫

新 妝 宜 面 下 朱 樓, 深 鎖 春 光 一 院 愁。
行 到 中 庭 數 花 朵, 蜻 蜓 飛 上 玉 搔 頭。

Xuân Từ - Lưu Vũ Tích

Tân trang nghi diện hạ châu lâu,
Thâm tỏa xuân quang nhất điện sầu.
Hành đáo trung đình sổ hoa đóa,
Tình đình phi thướng ngọc tao đầu.

LỜI CỦA MÙA XUÂN

Ngày xuân trang điểm xuống lầu,
Viện buồn phong kín xuân sầu vòng tay .
Đếm hoa gót nhẹ dấu giầy,
Chuồn chuồn bay đậu lên cây trâm cài .

Badmonk - Tâm nhiên


Trang điểm xong nàng bước xuống lầu son.
Cảnh xuân bị khóa kín trong điện quạnh hiu buồn lạnh
Nàng đi nhẹ và đếm những bông hoa
Chuồn chuồn bay đậu lên trên chiếc trâm ngọc cài đầu