Én ơi từ đâu đến Làm rộn cã mùa xuân Líu lo bao giọng hót Như hóa tự tiền thân Bên ngàn hoa hương ngọt Hay trên cành vút cao cất véo von giọng hót Lời thế nhân xì xào ...
Và cái tôi nhận về thì quí vị cũng nhận về mình như thế Vì mỗi nguyên tử thuộc về tôi, cũng thuộc về quí vị. Tôi là người lữ thứ, tôi gọi hồn tôi về Tôi, kẻ vô công rồi nghề, cúi nhìn hoa cỏ mùa hè. Lưỡi tôi, mỗi nguyên tử trong máu tôi là từ đất đai, từ không khí này Sinh ra từ cha mẹ ở đây, và họ cũng sinh ra ở đây Năm này tôi 37, cái tuổi tràn trề sinh lực Và hy vọng sẽ không ngừng cho đến ngày tôi chết. Những giáo điều và những trường học sẽ trống không Cứ để cho quay lại một thời gian, chúng tốt đẹp ở nơi cần, nhưng ta sẽ không quên Tôi tiếp nhận Tự nhiên như vốn có, thừa nhận mọi nơi, mọi lúc Nói hết mọi điều với sức lực buổi đầu tiên. Ai đấy nghĩ rằng sinh ra trên đời này là hạnh phúc? Tôi vội vàng nói với người này (anh hoặc chị) rằng chết cũng là hạnh phúc, tôi biết điều này. Tôi chết cùng với người đang chết và sinh ra cùng đứa bé vừa sinh, tôi ở giữa mũ và giày Tôi nhìn thấy những vật khác nhau, không cái nào giống cái nào, mọi thứ đều tốt đẹp Mặt đất tốt, những ngôi sao cũng tốt và những thứ phụ thuộc vào cũng tốt. Tôi không phải là đất mà cũng chẳng phải là những thứ phụ thuộc của đất đai Tôi là đồng chí, là bạn của mọi người, họ cũng là những người bất tử như tôi (Họ không biết rằng họ bất tử nhưng tôi biết.) Mọi thứ đều tồn tại tự thân và vì những cái của mình, với tôi là những gì thuộc về đàn ông và phụ nữ Với tôi, đấy là những chàng trai, những người biết yêu thương phụ nữ Với tôi, đấy là những người đàn ông kiêu hãnh, biết không để ai xúc phạm điều gì Với tôi, đấy là người tình và cô gái già quá lứa, là những người mẹ, những cụ bà Với tôi, đấy là những bờ môi hay cười, những đôi mắt nhiều khi rơi lệ Với tôi, đấy là con trẻ và những người sinh ra con trẻ. Hãy buông tấm màn trang trí! Quí vị chẳng có gì sai trái với tôi, không có ai là người xưa cũ, bị thải hồi Tôi nhìn xuyên qua vải bông kẻ, vải len mỏng khổ đôi Tôi có mặt ở khắp nơi, giữa những người kiên trì, những người biết tiếp thu, những người đầy sinh lực, và quí vị không thể nào xa tôi được. Đây quả thực là ý nghĩ của tất cả mọi người, sống ở mọi thời, mọi xứ sở chứ không chỉ của riêng tôi Nếu những ý nghĩ này không phải là của bạn, mà chỉ của tôi, thì chúng không đáng kể gì hoặc gần như là như thế Nếu chúng không phải là điều bí ẩn và không phải là lời giải điều bí ẩn thì cũng chẳng đáng gì hết cả Nếu chúng không ở thật gần mà không ở thật xa thì chúng cũng chẳng đáng gì. Đấy là cỏ, cỏ mọc khắp nơi, ở nơi nào có đất và nước Đấy là không khí cho tất cả mọi người trên mặt đất.
Một trong những tục cổ xưa nhất của người Việt là xăm mình. Tục này kéo dài mãi cho đến cuối thế kỉ thứ XIII, đầu thế kỉ thứ XIV mới chấm dứt. Có người nói rằng, bởi tục này mà tên nước đầu tiên của người Việt là Văn Lang. Hẳn nhiên, cách giải thích ấy chưa đủ sức thuyết phục, nhưng dẫu sao thì tục xăm mình cũng là một trong những tục cổ nhất và tồn tại thuộc vào hàng lâu dài nhất ở nước ta. Về nguyên nhân xuất hiện của tục này, sách Lĩnh Nam chích quái (phần Hồng Bàng thị truyện) viết như sau: "Bấy giờ, dân trên núi xuống nước đánh bắt cá thường bị thuồng luồng gây thương tổn, bèn cùng nhau tâu việc ấy với Vua. Vua nói: - Các giống ở trên núi khác với các loài ở dưới nước. Các loài ở dưới nước chỉ ưa những gì giống với mình và ghét những gì khác mình, vì vậy, ta mới bị gây hại. Nói rồi, Vua bèn ra lệnh cho ai nấy cũng phải lấy màu xăm hình thuỷ quái vào người. Từ đó, không bị thuồng luồng gây thương tích nữa. Tục vẽ mình của dân Bách Việt bắt đầu có kể từ đấy. Có thể nói, tục xăm mình phát triển mạnh mẽ nhất là ở thời Trần. ở thời nay, tục xăm mình có ý nghĩa như ý chí sắt đá, quyết tâm chống giặc ngoại xâm. Trong khi quân đội thời Trần đều thích lên cánh tay hai chữ "Sát Thát", thì nhân dân Đại Việt, nhiều người, dù là người đã có con cháu, cũng xăm lên bụng những chữ "Nghĩa dĩ quyên khu, hình vu báo quốc" thể hiện tinh thần vì việc nghĩa liều thân, báo đền ơn nước. Xăm mình, thích chữ vừa là truyền thống, vừa là thi hành lời thề thiêng liêng, vừa thể hiện một tinh thần thượng võ. Đồng thời cũng là một thái độ rõ ràng với quân địch (nhất là khi bị bắt): tự nhận mình là kẻ tử thù với chúng. Ngoài ra, tục thích chữ, xăm mình còn biểu hiện sự hòa hợp với thiên nhiên, biểu hiện ý thức tiếp nối truyền thống, không quên gốc Tổ, biểu hiện tinh thần quyết tâm chiến đấu cho nền độc lập của dân tộc. Vì thế, tục xăm mình thời Trần rất phổ biến, đạt đến trình độ nghệ thuật, và đã có thợ chuyên vẽ hình vì với người dân thời đó xăm mình cũng là hình thức trang điểm trên thân thể phản ánh quan niệm về cái đẹp của người đương thời.
Buổi sớm, tôi đi bộ trên đường làng đến tận giữa cánh đồng ngắm trời thênh thang, ruộng lúa trải rộng xa tít mù tắp. Nơi chân trời, những dãy núi giăng màn bao bọc, chở che chung quạnh Trời vẫn lạnh dìu dịu nên đợi hoài tới sáng rựng mà vẫn không có nắng, không thấy mặt trời đỏ ối từ núi phương Đông nhô lên ... Tôi ngồi uống trà nhìn ra cánh đồng mướt mạ mùa Xuân . Những cây nhãn trổ lộc non rợp mát quanh nhà. Quỳnh không nở hoa nhưng những chùm dạ hương dưới cửa sổ khiến đêm thơm nức mơ màng, con mương trong veo cạnh nhà dẫn nước từ trên suối xuống, không có đá sỏi, lòng mương không gập ghềnh mà chẳng hiểu sao cứ kêu róc rách không ngưng, những con mương này theo dòng sẽ đổ ra sông nào đó. Trong đêm thâu, tiếng nước chảy và hoa ngát không gian như gọi nên những âm thanh và mùi hương ngào ngạt của núi ngàn hùng vĩ tràn về ....
Biển đông người. Những làn da rám nắng. Nụ cười duyên dáng và những mái tóc rối bù trong gió. Tiếng gió cùng tiếng sóng rì rào và những con hải âu đậu trên bờ đá bối rối dụi mỏ vào nhau . Da trời màu ngọc. Nắng vàng như mật. Biển chưa bao giờ xanh trong như thế. Cúi mặt xuống nước, nhìn thấy được cả những viên sỏi xanh bé li tị Sóng gợn lên những đường diềm trắng xoá. Dọc bờ, đá đan xen với rong rêu loang lổ mảng xanh mảng xám, đôi chỗ lại hé ra một miếng đá nâu óng và những kẽ nứt đen thẫm uốn lượn nhịp nhàng, đẹp như một bức tranh trừu tượng. Khi ấy, hơn lúc nào hết, tôi hiểu rõ lời nói của một hoạ sỹ lớn, thiên nhiên là bậc thầy vĩ đại nhất của hội hoạ. Một người thầy mà không một học trò nào vượt tài được. Chính lúc đó, bên bờ biển, đứng trước cảnh mênh mông không giới hạn giữa trời và đất, trái tim tôi đau thắt lại. Tôi nhận thấy tôi quá đỗi nhỏ bé và cô đơn ... Tôi không phải là con chim hải âu lông xám đậu yên trên bờ đá lòng vô tư lự. Tôi không phải là hạt cát nằm thanh thản trộn lẫn giữa bãi cát vàng, nơi in dấu hàng vạn chân người đến và đi không quen biết. Tôi không phải là bọt biển sẵn sàng hồn nhiên tan biến trong biển xanh sâu thẳm.
Thầy Gogen Yamaguchi (Còn gọi là Người Mèo; Cat Man) sinh năm 1907 tại Kyusyu thuộc hạt Miyataki Ken, thuộc dòng dõi samurai chính tông. Từ nhỏ, ông đã làm quen và luyên tập nhiều môn võ, đặc biệt là Nhu đạo. Năm 20 tuổi, ông theo gia đình về sống ở Kyoto và tại đây, ông bắt đầu làm quen với môn võ Karate Goju của võ sư Chojun Miyagi, người gốc Okinawa . Ông đã đạt tới trình độ đệ ngũ đẳng Nhu đạo. Về văn hoá, ông theo hoc ngành luật và ngành y. Ông đã đậu tiến sĩ y khoa ngành cốt học, và thạc sĩ triết học Đông Phương. Ông còn say mê đạo học và là một tu sĩ Thần Đạo nổi tiếng. Ông luôn truyền bá phép quán tưởng, để tóc dài và ăn chay trường. Dáng người thấp lùn, nặng 70 ký nhưng chỉ cao có 1,53 mét, ông không ngừng gây kinh ngạc cho những kẻ diện kiến- nhất là người phương Tây- về năng lực phi thường và võ công ngoại hạng của mình. Sinh hoạt đời thường của ông đã đủ biểu thị sức chịu đựng vô biên của một cơ thể sắt thép: luôn thực hiện đầy đủ bổn phận của một tu sĩ Thần học trong sứ mạng truyền bá phép quán tưởng, đồng thời ông tiếp tục lãnh đạo rất thành công một “đế quốc” võ thuật có quy mô toàn cầu là tổ chức Karate. Hàng ngày ông theo dõi, đôn dốc hơn 12 ngàn võ sinh và hội quán Karate Goju cả về mặt chuyên môn lẫn kinh tài. Ở địa vị tối cao trong “đế quốc” võ thuật của riêng mình, ông vẫn sát cánh bên các môn sinh trong các buổi tập quan trọng. Tốc độ ra đòn của ông nhanh khó thể tưởng tượng: ông có thể thi triển thế đá bay với 3 hay 4 cú một lần vào bụng, ngực và đầu đối thủ. Tập luyện ngoài trời giữa mùa đông giá, ông vẫn chỉ mặc một bộ võ phục mỏng, đi chân đất, hướng dẫn các môn sinh leo lên các triền núi.
CUỘC TAO NGỘ VỚI MÔN PHÁI KARATE GOJU RYU
Yamaguchi nghe nói đến môn phái Karate Goju và người lãnh đạo nó, võ sư Chojun Miyagi lần đầu tiên khi ông đang theo học tai học đường Ritsumeikan. Hồi đó, Miyagi đang ở tại thành phố Naha , trên đảo Okinawa có khuynh hướng đi theo một con đường biệt lập, và hầu hết các chi lưu chính đều tập trung ở thành phố Shiru, sở trường của họ là các đòn cương. Võ sư Miyagi chủ trương đòn nhu cũng quan trọng như đòn cương. Do đó, chi phái Karate của ông ở Naha được mệnh danh là Karate Goju, tức là môn Không thủ đạo cương nhu (go: cương, ju: nhu). Nhận lời mời của Yamaguchi, võ sư Miyagi rời Okinawa sang Nhật. Nhờ gặp trực tiếp võ sư Miyagi, Yamaguchi hiểu rõ được tôn chí của môn phái Karate Goju. Phái này đặt nền tảng trên quan niệm triết học Đông phương, theo đó, mọi sự nếu cứng quá, hoặc mềm quá đều không tốt. Quan trọng là hai yếu tố cứng, mềm phải bổ sung cho nhau. Việc tổng hợp hai yếu tố cương,nhu trong võ thuật đã mang lại cho môn phái Karate Goju những đòn đánh uyển chuyển, nhịp nhàng và bay bướm. Nhưng nếu ai đó e rằng hoa mỹ quá sẽ không kiến hiệu thì người đó chỉ cần nhìn hai môn sinh Karate Goju tự đo đối luyện sẽ “tỉnh ra” ngay. Người ấy sẽ thấy Karate Goju có những đòn nhanh như chớp. Cuộc đấu giữa họ ít có thời gian chết, ít có những cảnh đứng yên chờ đối thủ sơ hở. Họ đều chủ động tấn công, tung ra những đòn “cương mãnh” mà thanh thoát. Võ sư Miyagi không chỉ “thuyết” suông mà đích thân ông còn biểu diễn các bài quyền vừa phức tạp, vừa lạ lùng. Buổi sơ kiến đã chinh phục hoàn toàn Yamaguchi, và cuộc đời ông đã qua một ngã rẽ quyết định. Yamaguchi dốc toàn tâm lực tập luyện môn Karate Goju. Ngày võ sư Miyagi rời Nhật Bản về Okinawa , ông hoàn toàn hãnh diện về người môn đệ của mình. Ông thăng đẳng cấp cao nhất của môn phái cho Yamaguchi, và uỷ thác cho người môn đệ sứ mang cao cả là lãnh đạo chi phái võ thuật này tại nước Nhật. Chia tay thầy xong, Yamaguchi bắt tay ngay vào việc truyền bá môn võ Karate Goju trên toàn nước Nhật. Trước tiên, ông lập hội Karate Goju ở trường đại học Ritsumeikan, rồi mở võ đường Karate đầu tiên tại miền Tây nước Nhật vào năm 1930. Sức làm việc không mệt mỏi của ông đã giúp môn phái thu hút được nhiều môn sinh và bắt đầu lan tràn khắp xứ. Ông nhận thấy môn Karate gốc Okinawa nói chung và môn Karate Goju của võ sư Miyagi nói riêng, với nguồn gốc võ cổ truyền Trung Quốc, vẫn còn bị gò bó quá nhiều và tĩnh quá. Ông thực thi việc mở rộng các động tác để võ sinh có thể ra đòn nhanh và tự do, thoải mái hơn. Những bước cải thiện này đã đưa môn Karate Goju tiến được một bước dài chỉ qua một thời gian vài năm. Cuộc Đệ nhị Thế chiến bùng nổ đã cắt ngang tất cả. Như mọi công dân khác, Yamaguchi tuân lệnh chính phủ lên đường sang công tác tại Mãn Châu vào năm 1939. Lúc đó nhằm giai đoạn bùng nổ cuộc Đệ nhị Thế chiến. Tại một nhà tù ở Mãn Châu, có một tù nhân ngoài 30 tuổi, thân hình thấp lùn. Ông ta không ngồi bất động, buồn thảm như các tù nhân khác, cũng không thích giao thiệp với ai. Ông chuyên chú duy nhất vào việc tập luyện Karate mỗi ngày. Tập xong, ông ngồi thiền, gần như đắm mình trong trạng thái xuất thần. Bọn cai tù bắt đầu chú ý đến ông. Dù ông rất gương mẫu trong việc chấp hành nội quy, bọn cai ngục vẫn cảm thấy “kỵ” ông. Họ nhắc nhở nhau coi chừng ông, thậm chí có kẻ còn gọi ông là “tên phù thuỷ”. Sau đó ít lâu, bọn chức sắt trại giam đã khám phá ra nguồn gốc của ông. Chúng biết ông là người của sở cảnh sát Tokyo phái qua Mãn Châu thi hành một công tác đặc biệt. Tại sở cảnh sát Tokyo , ông giữ một chức vụ hết sức kỳ lạ là “phát hiện lời nói dối”. Họ còn biết thêm ông là một võ sư Karate. Công việc ở Sở cảnh sát của ông là dự nghe những cuộc hỏi cung các kẻ bị tình nghi. Trong lúc các người này trả lời, ông quan sát mọi biểu hiện của họ qua lời nói, giọng nói, cử chỉ, nét mặt, sau đó cân nhắc để nhận định kẻ đó thành thật hay gian dối. Trong nhiều năm công tác, ông chưa bao giờ phạm sai lầm, nên ý kiến của ông rất được coi trọng. Vào lúc Đệ nhị thế chiến bùng nổ, chính phủ cử ông sang Mãn Châu để thi hành một sứ mang đặc biệt, nhưng vừa đặt chân xuống đất Mãn là ông bị bắt ngay. Biết rõ lý lịch của ông rồi, đám cai ngục thôi gọi ông là “tên phù thuỷ” mà gọi bằng tên thật: Gogen Yamaguchi.
Năm 1947, Yamaguchi được phóng thích khỏi nhà tù Mãn Châu và lên đường về nước. Thời gian tù đày 8 năm là dịp cho ông thu thập được nhiều nét tinh hoa của võ học cổ truyền Trung Hoa. Trở về tổ quốc trong một nước Nhật bại trận, Yamaguchi đau đớn chứng kiến cảnh võ thuật bị lực lượng Đồng minh chiếm đóng đặt ra ngoài vòng pháp luật. May thay, lệnh trên lại không “đụng” đến môn võ Karate, vì người kí lệnh nhầm tưởng Karate là một vũ điệu thuần tuý Đông phương! Sự hiểu lầm này đã đem lại cho Yamaguchi một vận may hiếm có, nhưng đồng thời cũng bắt ông phải bắt tay ngay vào việc. Ông lập tức khai thác dịp may và lao ngay vào công tác bị bỏ dở vì chiến tranh, để tiếp tục sứ mạng mà sư phụ Miyagi đã uỷ thác. Theo nhận định của ông, những truyền thống của dân tộc bao giờ cũng có sức mạnh lớn lao. Từ suy nghĩ này, ông quyết định đặt công tác phát triễn võ thuật trong khuôn khổ của nổ lực phục hồi các phong thái cổ truyền, đã tạo nên hình ảnh hào hùng của người Nhật. Ông thể hiện nghiêm khắc các nếp sống dân tộc trong mọi tương quan, đồng thời để tóc dài theo cung cách tu sĩ Thần đạo và giới samurai. Bề ngoài có vẻ cổ quái của ông cộng với lòng nhiệt thành đã lôi cuốn mọi người quanh ông trở về với niềm tự hào dân tộc. Phong trào đua đòi cách sống phương Tây mất dần sức quyến rũ, và chẳng bao lâu, chính những người ngoại quốc sống ở Nhật lại bị nếp sống Nhật chinh phục. Nhiều binh sĩ ngoại quốc trong quân đội chiếm đóng tìm đến võ đường Goju Kai ở Tokyo xin theo học và sau đó, họ đã trở thành các sứ giả truyền bá môn Karate Goju đi khắp thế giới. Tại Nhật, người ta thường nghe nhắc đến một biệt danh của ông là “Người Mèo” Không thủ đạo. Không ai biết rõ xuất xứ của biệt danh này mà chỉ phỏng đoán là do các quân nhân Mỹ chiếm đóng tại Nhật đặt cho ông. Những toán lính Mỹ đã nhiều lần kinh hoàng khi ông đột ngột xuất hiện ngay sau lưng họ mà họ không hề hay biết, vì ông đi đứng nhẹ nhàng như một con mèo. Cũng có kẻ lập luận rằng biệt danh ”Người Mèo”(Cat Man) rất thích hợp để diễn tả những động tác mềm dẻo, uyển chuyển của môn phái Karate Goju mà Yamaguchi là trưởng môn. Dù xuất phát từ nguồn gốc nào đi nữa, thì cái biệt danh đó xem ra đã chọn đúng đối tượng. Người Mèo Yamaguchi không phải chỉ được biết đến qua hình ảnh mái tóc dài buông xoã và đôi mắt đen rực sáng, ông còn là hiện thân của một sức mạnh truyền kỳ, của nghị lực và lòng đam mê. Và chính từ hai điều này, nên chỉ với khối óc và hai bàn tay trắng, ông đã tạo nên một đế quốc võ thuật hùng mạnh giữa thế kỷ này trong một thời gian ngắn.
Ngoài ra, một yếu tố không thể thiếu, giúp đưa ông tới thành công chính là sự kính mến của các môn sinh đối với người bạn đời của ông: bà Yamaguchi. Trong mọi nghịch cảnh, bà luôn trầm lặng, bình tĩnh, không hề than oán. Bà luôn khuyến khích các môn sinh của chồng khi họ có dấu hiêu nản chí. Hầu như tất cả các môn sinh vì quý trọng bà đã tìm cách giữ vững sự sống của môn phái. Đức hạnh và lòng thanh cao của bà đã khiến họ mến mộ bà có phần trội hơn đối với thầy của họ nữa. Thật đúng như một bậc danh nhân đã nói:”Đằng sau sự thành đạt của một vĩ nhân luôn có bóng dáng của một người phụ nữ”.
Lịch Sử về thầy Kim Chấn Bát và môn phái Jin Pal Hapkido . Chủ Tịch Và Sáng Lập Môn Phái Jin Pal Hapkido . Chủ Tịch Liên Đoàn Hapkido Thế Giới Võ Thuật . Trưởng Ban Tư Vấn Liên Đoàn Hapkido Hàn Quốc
Thầy Kim Chấn Bát (Kim Jin Pal ) sinh ngày 2 tháng 4 năm 1941 tại một thị trấn tên là U-Pori Il-Gu (Seu-Chung), Hàn Quốc. Lớn lên giữa một đất nước đang hỗn loạn bởi cuộc nội chiến giữa Bắc và Nam Triều Tiên . Thủa nhỏ ông được tập qua môn võ vật Ssireum là một môn võ vật truyền thống của Hàn Quốc ... Năm tuổi 16, ông rời quê để di chuyển tới thành phố Daegu Sin Chun và học thêm các môn võ thuật khác như : Judo, Kendo , cũng như Tang Soo Do (Chung Do Kwan).Năm 1960, thầy Jin - Pal tốt nghiệp trường học viện Cảnh sát quân sự . Sau khi hoàn tất đào khóa đào tạo cơ bản, ông được chuyển giao qua làm việc cho bộ cho Bộ Quốc phòng và sau đó được thuyên chuyển đến Seoul , Hàn Quốc . Tại đây, ông bắt đầu đào tạo thêm Hapkido với thầy Ji Han Jae, người sáng lập của Hapkido hiện đại . Năm 1961, tổng thống Nam Hàn Park Chung Hee tổ chức kiềm chế một số tổ chức chống chính phủ Nam Hàn và đồng thời khởi xướng ra luật lệ mới cho quốc gia này . Đang ở vị trí nguy hiểm, Tổng thống Park Chung Hee đã quyết định tuyển dụng những thành viên đầu quân làm vệ sĩ của ông . Đã có 500 thành viên ưu tú trong quân đội được chọn để thử. Sau một loạt các xét nghiệm chuyên kỹ thuật bao gồm bắn súng , tay để chống tay không, kỹ năng nói truyền đạt và cuối cùng nhưng không kém về mặt kỹ thuật võ thuật và thể lực . Có 30 nhân viên được thông qua để chấp nhận cho vị trí này , thầy Kim Chấn Bát là một trong số những người nàyđược tuyển chọn. Sau khi một cuộc bầu cử năm 1963, Tổng Công viên Chong Hee đã đắt cử và trở thành tổng thống mới của Hàn Quốc . Khi Tổng thống Park đã từ nhiệm công việc của chính quyền, ông quay về sống trong Nhà Xanh (tương đương của Mỹ White House), thì thầy Kim Chấn Bát vẫn tiếp tục nhiệm vụ của mình như là vệ sĩ riêng của ông Park Chung Hee . Hai năm sau, vào năm 1965, khi cuộc chiến tranh Việt Nam đã trở nên giai đoạn khốc liệt , và miền Nam Việt Nam bắt đầu bị xáo trộn bởi các thành phần cực đoan và tệ nạn xã hội... Thầy Kim Chấn Bát được bố trí gởi sang Việt Nam như một phần của Hàn Quốc chuyên về công việc điều tra tra hình sự (Bi Dul Gi Bu Dea). Trong thời gian đó, ông áp dụng võ thuật của mình cùng những kỹ năng võ thuật từ quân đội , từ đó ông đã thiết lập một kỷ lục về cách chống các tệ nạn xã hội xuất sắc khá thành công . Đầu tiên, ông đã tập hợp được một nhóm lớn của những người theo học Hapkido tại Việt Nam. Võ đường của ông được gọi "Trung tâm huấn luyện võ thuật Hapkido " hay Tổng hội Hapkido Việt -Hàn tại đường Nguyễn Huỳnh Đức , Phú Nhuận có đến hơn 1000 môn sinh theo học Ông là người trực tiếp đào tạo các vệ sĩ của phủ Thủ tướng Chính phủ miền Nam Việt Nam lúc bấy giờ. Sau đó, nhân chuyến viến thăm Hàn Quốc của Tổng thống Mỹ Lyndon Johnson B, thầy Kim Chấn Bát được yêu cầu trở lại Hàn Quốc để thực hiện thêm các kỹ năng vệ sĩ cho Tổng thống Johnson. Sau khi quay trở lại Việt Nam , ông được yêu cầu dạy huấn luyện cho các lực lượng quân đội Mỹ như lính Mũ Nồi Xanh , thành phần dân sự , quân sự và cảnh sát 355 của công ty hàng không miền nam Việt Nam. Năm 1968 ông đi du lịch đến Nha Trang, và đã thành lập một lớp võ thuật cho các trại không quân Mỹ tại thành phố miền cát trắng này . Sau khi thành lập xong trung tâm huấn luyện , ông rời Nha Trang để lại Cho Sung Ho là người HLV trưởng đứng ra đảm trách việc huấn luyện . Năm 1971, thầy Kim Chấn Bát rời Sài Gòn để mọi sự điều hành cho bác sĩ -võ sư Phạm Gia Cổn ( hiện nay bác sỉ Cổn là người có đẳng cấp cao nhất của môn phái;ông còn là một bác sĩ giãng viên tại trường đại học danh tiếng UCLA ). Sau đó thầy Kim Chấn Bát chuyển đến sinh sống tại Hồng Kông và cưới cô Sue Yun làm vợ . Tại Hong Kong thầy Kim Chấn Bát mở Flying Tiger Hapkido Studio và thành lập công ty võ thuật chuyên đóng các vai thế thân ... công việc trôi chảy và khá thành công .Năm 1973, sau khi xuất hiện trên đài truyền hình Hồng Kông , ông được mời hợp tác với hãng phim Kea Fa trong vai chính trong bộ phim võ thuật đầu tiên của ông với tiêu đề là Tiger . Với sự thành công lớn của bộ phim trên toàn khu vực Đông Nam Á ,Tiếp theo sau đó ông trở thành ngôi sao trong 7 phim khác như :The Mandarin , Black Guide , Valley Of The Double Dragon , Jet-do Karate , Code Name Panther, Evidence . .. Trong thời gian này, phần đông những ngôi sao chuyên đóng các vai thế thân stuntmen võ thuật phần nhiều xuất thân từ studio của ông . Một vài học trò nỗi tiếng của ông sau này thành danh như : Jackie Chan, Angela Mao, Sammo Hyung, Chan Na, Wang Kum Bong ... Ông cũng đã đào tạo nhiều môn sinh xuất sắc trong đó có , Master Thomas Lok hiện là 8 Dan tại Regina , Canada . Cùng trong thời gian này, ông cũng được mời đến Singapore bởi Sunny Tan Sar Bee để đóng góp cho buổi hội thảo vào Học viện Cảnh sát quốc gia Singapore. Ông thậm chí đã dạy võ thuật cho hoàng tử của Bahrain và đội ngũ vệ sĩ hoàng cung về nghệ thuật của Jin Pal Hapkido. Năm 1982, với ý định mở rộng phát triển Hapkido đến với thế giới phương Tây, thầy Kim Chấn Bát đã chuyển đến Hoa Kỳ và định cư tại miền Nam California. Trong mười năm, ông đã dạy và huấn luyện cho :Irvine SWAT Team , thành lập một lớp Hapkido tại căn cứ không quân El Toro Marine và năm 1987 và được bầu làm chủ tịch của Liên đoàn Võ thuật thế giới . Năm 1993, với ý định kết hợp kỹ thuật Hapkido vào các lực lượng về ban an ninh của Hoa Kỳ, Thầy Kim đã dời đến Washington DC. Tại đây, ông đã huấn luyện đặt cách cho DEA ( Drug Enforcement Administration ) và các bộ phận trực thuộc của DEA quản lý bởi William Simpson. Ông cũnglà HLV dạy đội tuyển bóng rổ của trường Đại học George Washington .Môn phái Jin Pal Hapkido cũng song song mở các lớp học tại Nhà Trắng Athletic và Trung tâm đào tạo Quyền Anh Olympic của trường vào năm 1988. Vài năm sau đó , ông đã chuyển võ đường của mình về thành phố Rockville, tiểu bang Maryland. Ông đã thành công được đào tạo: Ken Harvey của đội banh bầu dục Redskin của tiểu ban Washington đạt được đai đen Hapkido. Cùng với sự giúp đỡ của người con trai ông, hiện mang 7 Dan là Eric Kim, họ đã xây dựng thêm võ đường mới và rất đông môn sinh đến theo học ... Với một tài năng tuyệt vời cùng với niềm đam mê , thầy Kim Chấn Bát đã đóng góp và phát triển nhiều võ sư và HLV xuất sắc cho môn phái Jin Pal Hapkido . Hiện nay có 9 võ đường mang biểu ngữ của Liên đoàn Jin Pal Hapkido trên thế giới .
Xin giới thiệu về thầy Hideyuki Ashihara là người sáng lập ra môn phái Ashihara Karate Kaikan
Thầy Hideyuki Ashihara sinh vào năm 1944 gần Hiroshima, Nhật Bản. Năm 1960, ông chuyển đến Tokyo và vào năm 1961, bắt đầu theo học môn Kyokushin Karate với thầy Mas Oyama . Thầy Ashihara nhận được chức Shodan vào năm 1964 . Năm 1966, ông được phân công của tổ chức Kyokushin để mở một dojo trong tỉnh Shikoku, Nomura và sau đó tại Yawatahama . Ashihara sớm phát triển danh tiếng như là một HLV karate bật nhất trong hệ phái Kyokushin . Danh tiếng ông vang dội qua các cuộc tranh tài Enshinkai Karate của hiệp hội võ thuật tổ chức tại Nhật Bản thời bấy giờ .Sinh viên từ khắp thế giới đi du lịch đến Nhật Bản tại Osaka để nhận chỉ thị hay ghi danh tập huấn từ ông. Một trong những sinh viên địa phương tên là Joko Ninomiya, đã giành giải quán quân vào năm 1978 của môn phái Kyokushin tổ chức . Vào giữa những năm 1970, thầy Ashihara đã phát triển và bắt đầu giảng dạy các kỹ thuật riêng của mình tại võ đường của ông. Kỹ thuật của ông đã được áp dụng với lối đánh vòng tròn và đúng thời điểm. Cơ thể con người có khuynh hướng tự nhiên để di chuyển trong vòng tròn và ba chiều này là sự chuyển động của hình cầu. Sự tự nhiên đó đã có sẵng trong sự tự nhiên của bản chất con người . Thay vì trực diện đối đầu với đối thủ , phương pháp di chuyển xung quanh để hoán và triệt được gọi là kỷ thuật Sabaki khác với các kỹ thuật Kyokushin thiên về trên đường thẳng và đón nhận .Sau này Ông tách riêng và chuyển võ đường chính của mình ra khỏi thầy Matsuyama . Sau đó ông vẫn tiếp tục phong cách giảng dạy, áp dụng kỹ thuật Sabaki của ông vào trong hệ phái Ashihara karate. Có lẽ do khởi hành của mình từ chương trình giảng dạy truyền thống Kyokushin, nhưng với các lý do khác nhau, nhất là phương pháp huấn luyện về kỷ thuật khác nhau nên thầy Ashihara bị tách ra tổ chức hiệp hội KyokushinKai vào năm 1979. Năm 1980, ông thành lập Niko - Ashihara Karate Kaikan. Là người đứng đầu của tổ chức với danh xưng chính thức của ông là "kancho" ?. Nhiều môn sinh là các sinh viên giỏi nhiệt thành, cùng với sự hỗ trợ của Kancho Ashihara đồng với sự truyền bá mạnh mẽ môn phái Ashihara Karate , từ đó môn phái được chấp nhận giãng dạy trong ngành quân đội và cảnh sát Nhật Bản . Thầy Ashihara còn hướng dẫn các cách tổ chức và mở thêm võ đường tại khắp các địa phương khác nhau trên đất nước Nhật Bản và các nước khác trên thế giới. Theo thời gian, tổ chức đã tăng trưởng lớn mạnh và đông các thành viên hơn . Kancho Ashihara mất vì bệnh biến chứng từ ALS năm 1995. Con trai ông, là Hidenori Ashihara là người kế thừa sự nghiệp của cha bằng cách đứng đầu của tổ chức và chỉ đạo môn phái đến ngày hôm nay. Thầy Ashihara thường rất ít ngũ , thông thường chỉ dành 2 giờ để ngủ , mọi thời gian thường nhật thầy đều dồn hết tâm trí cho võ thuật . Thầy không thích gặp gỡ các hệ thống báo chí và truyền thông . Thầy có viết 3 cuốn sách về : kỹ thuật chiến đấu ngoài đường phố theo phương pháp cổ Kubudo . Kỷ thuật Sabaki theo nguyên lý Tam Hợp và hệ thống triết lý của bản môn . Theo chỉ đạo của Hidenori Ashihara, Niko có thay đổi một chút triết lý của môn phái . Một số các bản gốc kata mà Hideyuki Ashihara đã phát triển ( được thay đổi một chút ). Ngoài ra, một vạch đai(cấp) đã được bổ xung thêm . Hơn nữa, phương pháp giảng dạy tại võ đường của tổ chức cũng được sửa đổi chút ít để phù hợp với sự truyền bá môn phái ra thế giới... Một số tổ chức khác được xem là "nhánh" hay biến thể của các tổ chức ban đầu của Ashihara là David Cook, một môn sinh cũ của Niko, tự đứng ra thành lập Tổ chức Ashihara Karate châu Âu vào năm 1990. Năm 1993, Tổ chức quốc tế Ashihara Karate (IAKO) được thành lập tại Trại hè tại châu Âu Hà Lan. Hoosain Narker và Dave Jonkers là một phần của quá trình sáng lập và truyền bá môn phái sang Châu Âu . Cuối năm đó, nhân chuyện thuyên chuyến David Cook tới Nam Phi, Hoosain Narker đã tách ra khỏi hiệp hội IAKO và thành lập riêng danh xưng mới là Ashihara Karate quốc tế (AKI). Một môn phái lập bởi một cựu võ sinh của thầy Ashihara là Shintaikudo, tự động tách riêng và thành lập bởi Makoto Yoshida. Năm 1988, Joko Ninomiya, một trong những môn sinh ưu tú của thầy Hideyuki Ashihara cũng tự tách mình ra khỏi hiệp hội để thành lập môn phái Enshin Karate , Có trụ sở tại Colorado , Hoa Kỳ . Môn phái EnShinKarate vẫn dựa trên kỹ thuật nguyên lý Sabaki của Ashihara nhưng ẩn chứa nhiều ý tưởng riêng và thêmkỹ thuật của Judo của thầy Joko Ninomiya . Ngoài ra, trong năm 2007, Miguel Rios, một thành viên của tổ chức Karate Enshin,đã từ chức và đã thành lập riêng một tổ chức gọi là Jissen Karatedo Shurenkan lại quay trở về lại kỷ thuật và phương pháp huấn luyện chính thống của môn phái KyokushinKaikan .
Tôi không có thần linh nào ngoài lòng cương trực Tôi không có của cải nào ngoài sự phục tùng Tôi không có phép lạ nào ngoài sức mạnh nội tâm Tôi không có sinh tử nào ngoài sự bất diệt Tôi không có mắt nào ngoài tia chớp Tôi không tai nào ngoài sự bén nhạy Tôi không có tay chân nào ngoài sự nhanh nhẹn Tôi không có mục đích nào ngoài cơ hội Tôi không có thần thông nào ngoài chánh pháp Tôi không có nguyên tắc nào ngoài sự thích ứng Tôi không có bạn nào ngoài tâm tôi Tôi không có kẻ thù nào ngoài sự bất cẩn Tôi không có khí giới nào ngoài thiện chí và chánh đạo Tôi không có lâu đài nào ngoài tâm bất động Tôi không có gươm nào ngoài giấc ngủ của tâm.