Monday, July 4, 2011



Đồ đá mới của nền Văn hóa Hongshan ( Núi Đỏ )các kỷ thuật chạm khắc ngọc bích nephrite sớm nhất . kỹ thuật chạm và khắc đến độ tinh vi của họ được truyền lại trên các đồ công nghệ làm từ đá và ngọc.chủ yếu nằm trong khu vực đất nội Mông ( Tỉnh Liêu Ninh và tỉnh Hà Bắc hiện nay )Photobucket
LOT # HM 0001

Nhiều hiện vật ngọc Hongshan được xem là tốt , được giữ nguyên vẹn là do thực tế là nền văn hóa Hongshan là nền văn hóa của tế lễ và chôn cất cho nên các hiện vật thường nằm trong các hầm mộ trong lòng đất nên có được sự bảo quản khá tốt . Ngoài ra vì khí hậu khô cằn và khô của Nội Mông Cổ do ít mưa cũng là một yếu tố ...
Photobucket 
LOT#HM 0002 ( Kiểu rồng đầu lợn )

Photobucket
LOT# HM 0003 ( Kiểu rồng cuộn thai nhi .)

Có lẽ nổi tiếng được biết đến ngọc Hongshan là rồng cuộn thai nhi hay rồng trư long ( Đầu rồng nhưng miệng giống như con lợn )Sau khi nghiên cứu các di tích khảo cổ thời tiền sử tìm thấy ở thành phố Chifeng thuộc vùng tự trị Mông Cổ (Đông Bắc Trung Quốc), các nhà khoa học cho rằng đầu rồng có thể có nguồn gốc từ lợn hoặc cũng có thể là ngựa hay một loại động vật có sừng.

Photobucket
LOT # HM0004

Photobucket
LOT # HM 0005

Photobucket
LOT # HM 0006

Ngoài ra hình chim cũng xuất hiện như biểu tượng Toten tổ tiên của nền văn hóa này
Năm 1970, tại địa điểm Chifeng, thuộc Nội Mông, nhóm khảo cổ Nhật đào được cả trăm tượng bằng soapstone, từ 3 đến 30cm. Hình người, đa số là phụ nữ, chíên sĩ, thợ săn, nô lệ, thầy phù thuỷ , đến các loài quái thú …. Các con thú, nhiều nhất là rồng và heo, có cả rùa, thỏ, mèo, chim, phượng hoàng, cú mèo, ve sầu, cào cào, bướm, sâu…
Soapstone không thể nào sánh được với nephrite, tuy vậy loại đá này đã hân hạnh ghi lại thời Đồ Đá châu Á. Đó là nền văn hoá Hongshan (3500 - 2000TCN), bao trùm một vùng từ Nội Mông/Inner Mongolia , Hà Bắc(Hebei )và Liêu Ninh
Photobucket

LOT # HM 0007

Nền văn hóa (Lãng Chu)  được hình thành vào khoãng (3400-2250 TCN)
Đây là khoãng thời gian phát triển rực rỡ của nền văn hóa đồ ngọc trên sông Dương Tử của Trung Quốc. Tầm ảnh hưởng của nền văn hóa Lãng Chu kéo dài từ khắp vùng Thái Hồ về phía Bắc đến Nam Kinh ( Chang Jiang ) Còn phía đông thì kéo cho đến Thượng Hải và tiến dần đến biển . Phía nam thì kéo xuống tận đến Hàng Châu. Văn hóa của Lãng Chu đã được đánh giá với trình độ tạo ra các sản phẩm với chất lượng rất cao: như ngọc, lụa, ngà voi và đồ tạo tác sơn mài đã được tìm thấy trong các cổ mộ chôn cất của các vua quan ; và trong khi đó đồ gốm thường được tìm thấy trong các mảnh mai táng của các cá nhân nghèo thường dân . Nền văn hóa Liangzhu được phát hiện tại Chiết Giang và bước đầu khai quật bởi ông Shi Xingeng vào năm 1936.
Photobucket
LOT # HM 0008 (Đồ trang sức có hình lưỡi rìu đá )

Photobucket
LOT # HM 0009

Những người dân của những người thời cổ đại đã xem các biểu tượng làm từ ngọc như những đối tượng ma thuật và từ đó người ta sử dụng nó như một công cụ bảo vệ và hỗ trợ họ trong khả năng để giao tiếp với các đấng sáng tạo hay đấng hủy diệt của vũ trụ trong cuộc sống hàng ngày của họ.
Trong nửa thế kỷ qua, các nhà khảo cổ Trung Quốc đã thực hiện nhiều khám phá mới về nền văn minh tiền sử Trung Hoa. Từ thời Đá Mới đến đầu triều đại nhà Hạ (khoảng 7000-2000 TCN), đã tìm thấy rất nhiều di chỉ văn hóa tiền sử ở trung lưu thung lũng Hoàng Hà và trung, hạ lưu thung lũng sông Dương Tử, chẳng hạn như văn hóa Ngưỡng Thiều (Yangshao - , 4600-3000 TCN), văn hóa Long Sơn (Longshan - 3000-2200 TCN) trong thung lũng Hoàng Hà; các di chỉ văn hóa Hà Mỗ Độ (Hemudu 5000-4000 TCN), văn hóa Liangzhu (2800-1800 TCN) tại vùng hạ luu Dương Tử. Các di chỉ này cho thấy thung lũng Hoàng Hà và Dương Tử là một trong những khu vực đầu tiên trên thế giới xuất hiện văn minh nông nghiệp.

Photobucket

LOT # HM 0010 (Ngọc tông với nét khắc mặt Thao thiết Vuông Tròn .)

Nền văn hóa Yangshao (Ngưỡng Thiều ) là một văn hóa thời kỳ đồ đá mới đã tồn tại rộng khắp dọc theo miền trung Hoàng Hà tại Trung Quốc. Văn hóa Ngưỡng Thiều có niên đại khoảng 5000 TCN tới 3000 TCN. Văn hóa này được đặt tên theo Ngưỡng Thiều, di chỉ khai quật đại diện đầu tiên của văn hóa này, được nhà khảo cổ học Thụy Điển là Johan Gunnar Andersson (1874-1960) phát hiện năm 1921 tại khu vực ngày nay thuộc huyện Thằng Trì, địa cấp thị Tam Môn Hiệp , tỉnh Hà Nam.
Photobucket
LOT # HM 0011

Văn hóa này từng thịnh vượng tại khu vực ngày nay là các tỉnh Hà Nam, Cam Túc, Thiểm Tây và Sơn Tây.Nền văn hóa này chuyên về nông nghiệp và chăn nuôi. Các vật dụng được tạo tác ra từ đá ngọc hay đất nung.
Photobucket
LOT # HM 0012

 Nền văn hóa(Tam Tinh Đồi) Sanxingdui có từ khoảng 4.800-2.800 năm trước đây. Nền văn này trãi dài thời gian từ giai đoạn cuối của thời kỳ đồ đá mới đến giai đoạn cuối của triều đại nhà Thương và giai đoạn đầu của triều đại nhà Chu.Nền văn hóa Sanxingdui được xác định là sớm nhất và lớn nhất của nền văn hóa cổ đại nhà Thục. . Các vật hiện vật Sanxingdui có vị trí tìm thấy khoảng 40 km về phía đông bắc Thành Đô Chengdu ở tỉnh Tứ Xuyên, 10 km về phía đông của thành phố Quảng Hán, cách khoãng 50km từ thành phố Chengdu (thành phố Trùng Khánh, tỉnh Sơn Tây, Cam Túc… ) thủ đô của tỉnh Tứ Xuyên ngày nay....
Photobucket

LOT # HM 0013 - Tượng ngọc cùng cái mặt nạ của Shaman tế sư là biểu trưng của nền văn hóa Tam tinh Đôi.
Ngày xưa, người Trung Quốc xem ngọc như một “vật thiêng”, vật trân trọng, quý giá bậc nhất. Chỉ những nhà quyền quý mới có được ngọc trong nhà và những bậc vua chúa mới được quyền sở hữu ngọc và dùng ngọc để làm biểu tượng quyền lực, địa vị tối cao. Ví dụ như ngọc tỷ, tức con dấu riêng của các bậc hoàng đế dùng để đóng dưới các chiếu chỉ, văn kiện. Hay như các ngọc ấn, ngọc bội mang tính đặc trưng mà các đại thần, vương tước thường hay sử dụng để làm vật gia bảo, vật trấn trạch cho riêng mình. Chính vì thế nên có thời ở Trung Quốc, dân thường không được dùng bạch ngọc là của riêng, bởi vì bạch ngọc chỉ để dùng làm ngọc tỷ, ngọc bội...
Photobucket
LOT # HM 0014 (Hình tượng rồng khắc theo kiểu thời Hán )

Photobucket
LOT # HM 0015

Photobucket
LOT # HM 0016

Photobucket
LOT # HM 0017

Photobucket
LOT # HM 0018 - Hình tượng rồng khắc thời Hán.

Photobucket
LOT # HM 0019(Đĩa Bi , biểu tượng của quyền lực của các vua chúa thời Hán)

Cứ theo truyền thuyết, kiếm có từ thời nhà Chu, đến đời Xuân Thu Chiến Quốc thì cực thịnh. Thời này là giai đoạn mà người Tàu mới tìm ra sắt, lại thêm một số kỹ thuật mới được dùng trong việc luyện kim nên khí cụ thời đó cứng hơn đồ đồng đời Thương Chu. Thành thử nhiều kiếm đúc vào thời Xuân Thu, Chiến Quốc được xưng là bảo kiếm.  kiếm không những là một loại võ khí tùy thân còn là một loại trang sức. Ngô Đạo Tử họa hình Khổng Tử, cũng có đeo trường kiếm. Sang đời Tần Hán, hiệp khách và giới sĩ đại phu đeo kiếm để thêm uy nghi. Vì thế món võ khí này có một giá trị đặc biệt.

Đây là bộ kẹp kiếm bằng ngọc : 
Photobucket
Photobucket
Photobucket
Photobucket
Photobucket
Photobucket
Photobucket
Photobucket
LOT # HM 0020 ( Bộ kẹp kiếm - Jade Sword scabbard )

Thời Chiến Quốc kéo dài từ khoảng thế kỷ 5 TCN tới khi Trung Quốc thống nhất dưới thời Tần năm 221 TCN. Thông thường nó được coi là giai đoạn thứ hai của nhà Đông Chu .


Các hình tạo tác rồng được khắc từ ngọc theo kiểu mẩu đời Hán :
Photobucket
LOT # HM 0021

Photobucket
LOT # HM 0022


Photobucket
LOT # HM 0023


Photobucket
LOT # HM 0024


Photobucket
LOT # HM 0025

Photobucket
LOT # HM 0026 - Rồng Huan được chế tác từ ngọc , được đeo như biểu tượng quyền lực


Photobucket
LOT # HM 0027



Photobucket
LOT # HM 0028  -  Lưỡi búa, vũ khí bằng ngọc làm biểu cho quyền lực.Tượng Hình chim Phụng Hoàng bắt đầu xuất hiện làm vật biểu tượng cùng chung với rồng.


Photobucket
LOT # HM 0029

Photobucket

Ấn và triện có khắc chử : Quan Vũ ( Quan Công ) Chi Ấn 

Đồ trang sức thời nhà Đường (năm 618 –  năm 907) là triều đại kế tiếp nhà Tùy. Nhà Đường được các nhà sử học coi như là đỉnh cao trong nền văn minh Trung Hoa ngang bằn thời nhà Hán.
Photobucket
LOT # HM 0030

Các kiểu ngọc khắc theo lối tạo tác nhà Đường
Photobucket
LOT # HM 0031


Photobucket
LOT # HM 0032

Photobucket
LOT # HM 0033 - Ly uống  Rượu hình sừng có hoa văn theo lối đời Hán .

Photobucket
LOT # HM 0034

Photobucket
LOT # HM 0035
Rồng thời Hán có khi được tạo tác dưới dạng hình con nghê dành cho trang trí, phong thủy hay biểu trưng của sự phát đạt ...

Năm 138 TCN trào Hán Vũ Đế, Trương Khiên mạo hiểm 30 năm, hoàn thành sứ mạng mở cánh cửa cho nhà Hán ra phương Tây. Từ thành Dunhuang/Đôn Hoàng đến Khotan, dần dần thành hình một con đường, men giữa sa mạc Taklamakan và rặng Kunlun/núi Ngọc nối với Con Đuờng Ngọc Bích đã sẵn có. Từ đó, triều Hán mới biết tới nephrite Khotan . Ngày nay, ngưòi Trung Hoa gọi vùng này là Hetien, thuộc vùng tự trị Tân Cương. Ngọc ở đó, họ gọi là ngọc Hetian. (ngọc Hòa Điền ) .


Photobucket
Photobucket
LOT # HM 0036 - Tô ngọc được làm bằng Ngọc Trắng Hòa Điền đời Thanh



Photobucket
LOT # HM 0037

Ngọc trắng đời Thanh có con dấu Khang Hy ngự dụng
Photobucket
LOT # HM 0038


Photobucket
LOT # HM 0039 - Bộ ấm trà bằng ngọc trắng Hòa Điền đời Thanh


Đồ Ngự dụng có khắc dấu triện của vua Càng Long
Photobucket
LOT # HM 0040


Photobucket
LOT # HM 0041

Photobucket

Photobucket
LOT # HM 0042 - Chậu bằng ngọc bích đời Thanh có triện Thanh Cao Tông


Photobucket
LOT # HM 0043

Photobucket
LOT # HM 0044 - Cuốn sách bằng bích ngọc : Ngũ Phúc Kinh đời Thanh .

Photobucket
LOT # HM 0045 - Vật đựng văn thư bằng bích ngọc của Ung Chính đời Thanh

Bộ ấn Quốc Tỷ Truyền Quốc được khắc chử Hán cùng chử Mản Thanh đời Thanh.

Photobucket
LOT # HM 0046

Photobucket
LOT # HM 0047


Photobucket
LOT # HM 0048

Photobucket
LOT # HM 0049

Các vật đeo trang sức bằng ngọc
Photobucket

Photobucket
LOT # HM 0050

Photobucket
LOT # HM 0051


Photobucket
LOT # HM 0052 - Trâm ngọc cùng dây đeo .


Photobucket
LOT # HM 0053

Photobucket
LOT # HM 0054

Ấn ngọc
Photobucket 
LOT # HM 0055

Photobucket
  LOT # HM 0056

Tượng Quan Công và Đức Phật Thích Ca bằng ngọc trắng
Photobucket
LOT # HM 0057


Photobucket
LOT # HM 0058

Photobucket
LOT # HM 0059


Photobucket
LOT # HM 0060


Photobucket
LOT # HM 0061


Photobucket
LOT # HM 0062

Photobucket
LOT # HM 0063


Photobucket
LOT # HM 0064


Photobucket
LOT # HM 0065


Photobucket
Photobucket

LOT # HM 0066


Photobucket
LOT # HM 0067

Photobucket
LOT # HM 0068 - Hốt ngọc - Cây Như Ý

Photobucket
LOT # HM 0069  - Bình được tạo tác bằng ngọc Brazil

Photobucket
LOT # HM 0070 - Hai cây Phurba bằng ngọc, báu vật của Tây Tạng .

Photobucket
LOT # HM 0071 - Bình được tạo tác bằng đá floride .

Đá thổ sơn :

Photobucket
LOT # HM 0072


Photobucket
LOT # HM 0073


Photobucket
LOT # HM 0074

Đá thổ sơn
Photobucket
LOT # HM 0075


Photobucket
LOT # HM 0076


Photobucket
LOT # HM 0077
Photobucket
LOT # HM 0078

Hổ phách - Amber
Photobucket
LOT # HM 0079

Photobucket
LOT # HM 0080


Photobucket
LOT # HM 0081

Photobucket
LOT # HM 0082

Bình đồng đời Thanh
Photobucket
LOT # HM 0083
Tượng Phước-lộc-thọ đời Thanh
Photobucket
 LOT # HM 0084


Gốm và tượng đời Thanh
Photobucket
LOT # HM 0085


Photobucket
LOT # HM 0086

Photobucket
LOT # HM 0087 - Gốm đời Thanh


Photobucket
LOT # HM 0088 - Gốm đời Tống.


Photobucket
LOT # HM 0089 - Gốm đời Minh .

Photobucket
LOT # HM 0090 -  Gốm đời Minh .

Photobucket
LOT # HM 0091 -  Gốm đời Minh .


Photobucket
LOT # HM 0092 - Con hà mã được tạo tác bằng ngà voi

Photobucket
LOT # HM 0093 - Tượng Lão Tử .

Thursday, June 30, 2011

Cái Rìu của tổ tiên chúng ta cũng có một sự tích lý thú, được đặt thành tên dân tộc: Về ý nghĩa của tộc danh Việt, lâu nay một số người dựa trên dạng chữ Hán hiện đại [越] có chứa bộ tẩu [走] của chữ này để giải thích rằng Việt nghĩa là chạy, vượt. Thực ra chữ Việt trong Hán tự đã trải qua nhiều cách viết rất khác nhau, đây là tên gọi có từ lâu đời (họ Việt[粤] –thường, chủng Bách Việt được nhắc đến trong sử Bắc từ rất sớm).
Theo Bình Nguyên Lộc (7), việt [钺] vốn là tên gọi một loại công cụ kiêm vũ khí rất đặc thù của người Việt cổ : cái rìu. Như chúng ta đã biết, khảo cổ học đã tìm được ở khắp nơi trong địa bàn cư trú của người Việt cổ rất nhiều loại rìu với các nguyên liệu khác nhau (đá, đồng, sắt) như rìu đá có tay cầm, rìu đồng hình tứ giác, rìu đồng lưỡi xéo. Trong ngôn ngữ Nam-Á cổ đại, rìu hay dìu có lẽ đã được phát âm là “uỵt” hoặc một âm gì đó tương tự (các truyền thuyết Mường gọi vua Việt là Bua Dịt hay Dịt Dàng). Khi tiếp xúc với người phương Nam, tổ tiên người Hán, với tính cách du mục vốn có, đã rất chú ý đến loại công cụ có thể được dùng như vũ khí này, coi nó là đặc trưng quan trọng của ngưòi phương Nam nên đã gọi họ là bọn Rìu : “Uỵt” được phiên âm qua tiếng Hán cổ (tiếng Quảng Đông-vùng Bách Việt), rồi từ tiếng Hán lại phiên âm trở lại theo cách đọc Hán-Việt thành Việt. Chính cái vật chất là cái rìu lưõi xéo có cán đã là nguyên mẫu để tổ tiên người Trung Hoa, khi tiếp xúc với phương Nam, đã mô phỏng theo đó mà tạo nên chữ Việt nguyên thủy. Còn trong tiếng Việt, chữ”Uỵt” nguyên thủy ở bản địa đã trải qua nhiều biến đổi ngữ âm để có được bộ mặt của chữ rìu hiện nay cùng với cả một họ các từ gần nghĩa : rìu , rèn, rào, dao , rựa , ... Bên cạnh đó, cho đến gần đây vẫn có một chữ Việt với tư cách danh từ chung có nghĩa là rìu ; nó xuất hiện trong kết hợp phủ việt (phủ = búa, việt = rìu), tương tự giống trường hợp chữ Ná người Hán mượn rồi trở về ta là chữ Nỏ.
chim cắt là chim Rìu, chim Việt, chim biểu của thần mặt trời Viêm Đế. Viêm Đế có họ Khương (Sừng) có chim biểu là chim mũ Sừng, Mường ngữ gọi là chim Khướng (biến âm của Khương) và Anh ngữ gọi là Hornbill (chim mỏ sừng). Việt có một nghĩa là Rìu thì phải hiểu Rìu Việt là Rìu mỏ chim Rìu, chim Cắt. Việt là một đại tộc của thần mặt trời Viêm Đế. Việt là Rìu, là rìu chim Cắt, chim Rìu.



Thời Thương Chu Việt được sử dụng vừa như là vũ khí vừa như là nghi trượng. Vua dùng Việt để biểu thị vương quyền, Tướng dùng Việt để biểu thị tướng quyền. Sử Ký ghi Chu Võ Vương dùng Hoàng Việt, Chu Công dùng Đại Việt,Thiệu công dùng Tiểu Việt. Thời cổ đại vua thường ban cho đại thần “Thanh đồng Việt” mang ý nghĩa giao cho họ quyền cầm quân và quyền chinh phạt để phò tá và bảo vệ vương quyền.
Tại sao có danh xưng Việt, Văn hóa Lương Chử khai quật được ở tỉnh Chiết Giang cho ta câu trả lời:
Ngọc Việt đào được tại Chiết Giang,văn hóa Lương Chử, là tượng chứng quyền lực của thủ lãnh người Việt. Việt Tộc do đó mà gọi tên là Việt (wet,vet,viet) là khí vật điển hình của văn hóa Bách Việt, lưu truyền phạm vi bao quát Đông Nam Á và một bộ phận các đảo Thái bình dương. Trong số văn vật của Triều Thương có thể tìm thấy Thanh đồng Việt (rìu bằng đồng xanh), và một dạng Ngọc Tông có khả năng là một bộ phận nhân tố văn hóa của nhóm người Việt ở đông bộ di chuyển lên phía bắc được người Ân du nhập về (chủ thể là tộc Đông Di)”.(theo Baiyueren)

   Ríu Trận thuôc loại Binh-Khí Chấn-Nện, phôi-thai từ lưỡi Rìu Đồng cổ xưa, để trở thành một loại Búa Trận gọi là Đao-Phủ, mà ngày nay gọi vắn-tắt là Phủ.

Búa Trận gồm có hai loại :
1 - Búa Trận không gắn lưỡi Dáo, gọi là Phủ (), được chia ra làm ba thứ :

a) Song-Phủ (双 ) : Đó là thứ Búa Trận không gắn Lưỡi Dáo và cán ngắn để sử-dụng một cặp ;

b) Độc-Phủ (獨 ) : Đó là thứ Búa Trận không gắn Lưỡi Dáo và cán dài trung-bình ;

c) Đại-Phủ (大 斧) : Đó là thứ Búa Trận không gắn Lưỡi Dáo, nhưng có móc ngạnh sắc bén phía đối-diện với lưỡi Búa Riều, có cán dài để sử-dụng bằng hai tay, và được gọi là «Khai Sơn Đại Phủ» (開 山 大 斧) .
Loại Đại-Phủ này là binh-khí thường được sử dụng ở Trung-Hoa nhiều hơn là ở Việt-Nam và nhất là được tướng-sĩ triều Nhà Liêu (Liao - 915–1125) và Tây-Liêu (1124–1218) ngày xưa ưa chuộng. Hùng-tướng La-Tinh-Hải của Tây-Liêu đã từng nổi danh xưa kia nhờ cây Khai Sơn Đại Phủ này.


2 - Búa Trận có gắn lưỡi Dáo, gọi là Việt (), được chia ra làm hai thứ :

a) Song-Việt (双 ) : Đó là thứ Búa Trận có gắn Lưỡi Dáo và cán ngắn để sử-dụng một cặp ;

b) Đại Phủ-Việt (大 斧 鉞) : Đó là thứ Búa Trận có gắn Lưỡi Dáo và cán dài để sử-dụng bằng hai tay.
Loại Búa Trận Đại Phủ-Việt này trọng-lượng tương-đối nhẹ hơn loại Khai Sơn Đại Phủ và là loại binh-khí thường được sử-dụng xưa nay tại nước Việt nhiều hơn là ở Trung-Quốc. Mãi tới thời Nhà NGUYỄN (1802-1945) Đại Phủ-Việt này vẫn còn được chọn để sử-dụng trong ngày Tế Lễ Đàn NAM-GIAO
 
Chữ Việt (yuè) cũng viết là “”. Việt là búa lớn (đại phủ) ta gọi là Rìu thường nói chung là “Phủ Việt”( 斧戉).
Về sau chữ Việt được ghi theo dạng:
Theo tự dạng này chữ Việt có thêm bên cạnh chữ thổ nằm trên chữ chỉ , hai chữ này ghép lại chính là chữ chỉ có nghĩa là nơi chốn chỗ ở, cơ sở, nền móng.Cấu trúc này khẳng định người sử dụng Việt có quyền uy nơi chính lãnh địa của họ. Và chữ Việt này đã được dùng để gọi tên chủng tộc Việt. Phải nói đây là chủ quan của người tạo chữ vuông, họ tự hào chủng tộc họ mang tên, một chủng tộc có lãnh thổ và có quyền uy với sức mạnh được biểu trưng trên vũ khí và quyền trượng việt. Nói chính xác hơn họ là người Việt, đã tạo ra chữ của người Việt, chữ khối vuông. Họ có đất đai, có sức mạnh, đã định cư chứ không nay đây mai đó như người du mục.
Người Hoa là người đến sau, không phải là người tạo chữ nên chỉ được chọn một bông hoa mỏng manh để làm chữ:
Kim Văn Triện
Nhưng khi lịch sử đã sang trang, mọi chuyện đều có thể đảo ngược, cánh hoa yếu ớt đó đã quật ngã cái búa việt cứng rắn, chủng Việt thua trận, chủng Hoa lên ngôi, cùng với chiến thắng chữ Hoa cũng bước lên đài vinh quang mang thêm nhiều nghĩa quang huy, quang thái, phồn vinh, rực rỡ. Chữ Việt cùng chung số phận của chủng Việt ly tán, biến thái. Chữ Việt xuống nghĩa bi ai: chạy, ngã đổ, tan tác!Khuôn mặt oai hùng của chữ Việt cũng bị kẻ thắng trận làm biến dạng méo mó.
Từ dạng chữ (gồm chỉ và Việt) đã bị đổi thành ( gồm chữ tẩu và việt).Việc thay đổi này rất nhẹ nhàng thoạt nhìn chẳng xáo trộn nhiều,nhưng chỉ một cái rạch nhẹ của lưỡi lam trên mặt mỹ nhân cũng đủ làm tan nát một khuôn mặt khả ái, chữ Việt trước (chữ Việt nguyên thủy) với vũ khí khẳng định quyền uy thì chữ Việt sau (chữ Việt biến thái) đã được cách điệu lại diễn cảnh người ôm vũ khí bại tẩu. Trên Kim văn có họa đồ chữ tẩu rất sinh động,hình đó diễn tả cảnh con người bỏ chạy khỏi vị trí của mình:
Chữ Tẩu trên Kim Văn (Chung Đỉnh văn).
Cũng có ý kiến nói rằng Việt là vượt, là siêu việt nhưng nghĩa này chỉ là nghĩa phát triển về sau chứ thâm ý của người cải biên chữ Việt theo dạng Tiểu Triện thì không phải như vậy.
Ngay thời cực thịnh của nước Việt,Câu Tiễn vượt Trường Giang vào Trung Nguyên xưng bá cũng chưa có chữ Việt có bộ tẩu,chữ Việt trên thanh kiếm của Câu Tiễn đã nói lên điều này.
(Bốn chữ sau là “Việt Vương tự tác” trích trên thanh “Việt Vương Câu Tiễn tự tác dụng kiếm”)
Thói đời không ai không nghĩ tốt về mình, về người thân, về dòng họ, về chủng tộc của mình, chữ Việt nguyên thủy là bài ca về sức mạnh,về quyền lực của chủng Việt nên ta có thể nói chữ đó phải do người của chủng Việt tạo ra, thêm nữa nhà Thương cũng là triều đại của chủng Việt chứ không
phải là chủng Hoa (xin xem bài Ghét đời Kiệt Trụ-cùng tác giả), chữ khối vuông xuất hiện vào đời nhà Thương thì sự kiện chứng càng mạnh hơn nữa.
Chỉ có đối phương mới mạt sát đối thủ của mình, việc sửa lưng chữ Việt làm biến dạng nó từ chữ “chỉ” xác định địa bàn sang chữ “tẩu” bỏ địa bàn chạy khỏi địa bàn thì chỉ có người Hoa mới làm thế sau khi đã chiến thắng người Việt, sáp nhập mọi tài sản của người Việt vào tài sản của mình.
Tần Thủy Hoàng sau khi tiêu diệt lục quốc thống nhất Trung Hoa đã ra lịnh chỉnh lý,thống nhất chữ viết, định dạng chữ viết chuẩn gọi là Tiểu triện đã hoàn toàn xóa bỏ khuôn mặt chữ viết của người Việt bằng cái áo khoát màu Hoa, nhưng đâu đó trong cách viết chữ Hán vẫn không ngơi bàng bạc hồn Việt.
Lịch sử hào hùng của chữ Việt đã được thay bằng trang bi sử, vậy người Việt có nên giữ mãi hình dạng chữ này để nhắc mình nhớ mãi cảnh bại vong của cả một chủng tộc! Riêng tôi, tôi chỉ ước gì được thay hai chữ Việt Nam 越南 bằng hai chữ “Việt Nam - Tổ Quốc tôi”.
Có thể xem chữ Việt này cũng có nghĩa tương đồng với chữ Hán (chỉ dân tộc Trung Hoa) và chữ Hãn /Khan của Mông Cổ đều dùng để chỉ quyền lãnh đạo.

http://www.hoidautieng.com/baiviet/ChuViet.htm

Tuesday, June 28, 2011

Thị chư thiền lão tham vấn thiền chỉ Lý Thái Tông


示諸禪老參問禪旨  -  李太宗 
般若真無宗,
人空我亦空。
過現未來佛,
法性本相同。

 
Thị chư thiền lão tham vấn thiền chỉ -  Lý Thái Tông 

 Bát nhã chân vô tông ,
Nhân không, ngã diệc không .
Quá hiện vị lai Phật ,
Pháp tính bản tương đồng .

Trả lời các vị thiền lão hỏi về yếu chỉ đạo thiền  

Trí huệ vốn không gốc ,
Không phải ai Không phải ta .
Trước phật sau phật vô lượng phật,
Pháp tính kìa sen nỡ một tòa
.

Badmonk - Tâm Nhiên

Lý Thái Tông 李太宗 (1000-1054) tên là Lý Phật Mã 李佛瑪, huý Đức Chính, sinh ngày 26 tháng 6 năm Canh Tý (1000) tại châu Cổ Pháp, lộ Bắc Giang, con trưởng của vua Lý Thái Tổ. Ông lên ngôi năm 1028, ở ngôi 27 năm, mất ngày 1 tháng Mười năm Giáp Ngọ (1054), làm vua trong đời thịnh trị của nhà Lý. Ông là người thông minh, lập được nhiều chiến công, thích nghiên cứu sách vở, thơ văn, âm nhạc và đạo Phật, luôn quan tâm đến đời sống của dân chúng, coi trọng việc mở mang kinh tế. Ông thường hay bàn bạc về giáo lý nhà Phật với các bậc thiền lão. Lê Quý Đôn (trong Toàn Việt thi lục) từng so sánh Lý Thái Tông với vua Quang Vũ nhà Hán. Ông mất ngày 1 tháng Mười năm Giáp ngọ (tức ngày 3 tháng Mười một năm 1054), làm vua 27 năm, thọ 55 tuổi.

Tác phẩm: hiện còn 2 bài chiếu, 2 bài thơ. Ngoài ra, vào năm 1042, ông còn ra lệnh cho một số quan lại đương thời biên soạn bộ Hình thư làm nền tảng pháp luật của triều đại mình. Tác phẩm này hiện đã mất.